Thánh Thất Cao Đài Toronto

Thánh Thất Cao Đài Toronto Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thánh Thất Cao Đài Toronto, Shopping & retail, 259, Ba Ria.

28/07/2026

Tìm hiểu cách bắt ấn tý.

ẤN, PHÁP, PHÙ, CHÚ chẳng khác nào như những công-tắc điện để mở những nút dây điện khắp nơi. Nên Đạo-gia nói Tu đắc Đạo là đoạt được cơ mầu-nhiệm Thiêng-liêng đó. Hỏi vậy Đạo Cao-Đài có sử dụng: ẤN, PHÁP, PHÙ, CHÚ không? Đương nhiên là có đủ cả, bởi có Bí pháp mới hiện ra Thể pháp. Xưa, Đức Chí-Tôn ban ân huệ cho Thần Tiên Thánh Phật thế nào, thì nay Ngài cũng ban ân huệ cho cả nhân loại như thế ấy. Nên khi một người Nhập-môn vào Đạo trở thành tín đồ thì Ngài ban đủ: ẤN, PHÁP, BÙA, CHÚ nắm trong tay:

Ấn
là Ấn Tý (nhơn sanh thường sử dụng Ấn này)

Pháp
là các pháp Giải oan, Phép Tắm Thánh, phép Hôn phối, phép xác, phép đoạn căn…
Bùa
là bùa chữ Khí, bùa Kim Quang Tiên…

Chú
là câu chú của Thầy “Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát”.

Trong Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ, trước khi lạy phải bắt Ấn Tý, gọi là Ấn Kiết quả, nghĩa là thời-kỳ này Pháp tu đã kết thành trái: Tu thì thành, dữ thì đọa. Thưởng phạt phân minh để kết thúc hạ ngươn, chuyển sang ngươn Thánh đức của kỳ chuyển mới. Bàn tay trái thuộc Dương, bàn tay hữu thuộc Âm. Ấn Tý là Ấn của Chí-Tôn, rất quan trọng về mặt bí pháp, nhưng bắt Ấn thế nào cho thật đúng?







VĂN KIỆN 1:

THÁNH GIÁO DẠY CÁCH LỄ BÁI VÀ THỜ THIÊN NHÃN

25 Février. 1926

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VIẾT CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

TRUNG vô giữa bái lễ cho THẦY coi...
Con làm lễ trúng song mỗi gặt, con nhớ niệm câu chú của THẦY:
"NAM MÔ CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT"
Ðại lễ là làm lễ ba lần:
Lần đầu dâng hương và hoa.
Lần giữa dâng rượu
Lần chót dâng trà.
Phải chính mình con dâng các lễ ấy.
Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn TÝ, tay mặt ngữa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.




VĂN KIỆN 2:

LỜI DẠY TRONG QUYỂN KINH LỄ CỦA TÒA THÁNH TÂY NINH

Trong quyển KINH LỄ, phần Tiểu dẫn, phần hướng dẫn CÁCH LẠY có ghi như sau:

Chấp hai tay lại như dưới đây:


Tay trái bắt Ấn Tý (1) rồi nắm lại. Kế đó, bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái (tay mặt) xỏ vô giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái.

Để hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá rồi quì xuống đưa hai tay lên trán như trước mà niệm “NAM MÔ PHẬT”, đưa qua bên trái niệm “NAM MÔ PHÁP”, đưa qua bên mặt niệm “NAM MÔ TĂNG”. Rồi để ngay ngực mà niệm:

· Nam-mô CAO- ĐÀI TIÊN- ÔNG ĐẠI BỒ- TÁT MA- HA- TÁT (cúi đầu).

· Nam-mô QUAN- THẾ- ÂM BỒ- TÁT MA- HA- TÁT

· Nam-mô LÝ ĐẠI TIÊN-TRƯỞNG KIÊM GIÁO-TÔNG ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

· Nam-mô HIỆP THIÊN ĐẠI ĐẾ QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

· Nam-mô CHƯ PHẬT, CHƯ TIÊN, CHƯ THÁNH, CHƯ THẦN.

Mỗi lần lạy Trời thì lạy: một lạy gật đầu bốn cái, làm như vậy cho đủ ba lạy là 12 gật . Nhớ mỗi gật phải niệm: Nam-mô CAO- ĐÀI TIÊN- ÔNG ĐẠI BỒ- TÁT MA- HA- TÁT.

Còn lạy Phật và Tiên thì ba lạy, mỗi lạy gật đầu ba cái là 9 gật.

Khi lạy thì hai bàn tay trải ra và hai ngón cái phải gác tréo nhau.

***Bắt Ấn Tý nghĩa là: bấm đầu ngón tay cái vào gốc ngón tay áp út.

Về nghi thức Lễ bái của Đạo Cao-Đài, khi lấy dấu: Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi cũng mang ý-nghĩa Tam bửu:

- PHẬT, quyền năng tối thượng là Đức Chí-Tôn.

- PHÁP, quyền năng tạo đoan là Đức Phật-Mẫu..

- TĂNG, quyền-uy giáo hoá, đại diện qua mỗi nguơn hội có:

§ Nhứt kỳ Phổ-Độ: Phật A-Di-Đà

§ Nhị kỳ Phổ-Độ: Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

§ Tam kỳ Phổ độ: Phật Di-Lặc Vương



VĂN KIỆN 3:

THÔNG TRI CỦA HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI

CỬU TRÙNG ĐÀI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Văn phòng (Tứ thập lục niên)
NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ TÒA THÁNH TÂY NINH
Số5-NCPS/TT
THÔNG TRI

HỘI THÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI NAM NỮ

Kính gửi Toàn thể Chức sắc Thiên Phong, chư Chức Việc và Bổn Đạo nam, nữ
NAM VÀ TRUNG TÔNG ĐẠO

Kính chư Hiền Huynh, Hiền Hữu, Hiền Tỷ, Hiền Muội,
Do phúc trình số 77PT, ngày 13 tháng Giêng Tân Hợi (dl 8.2.71) của HỘ ĐÀN PHÁP QUÂN tường trình có phần đông Chức sắc, Chức việc và Bổn Đạo, khi vào ĐềnThánh hiến lễ Đức Chí Tôn, không giữ đúng theo Luật Đạo như sau:
- Bắt ẤN TÝ không trúng, có người ngón tay mặt gát ngang qua bàn tay trái, có người thọc sâu trong lòng bàn tay trái; như vậy là bấm không đúng chỗ như trong Kinh đã chỉ dẫn.

- Khi bắt Ấn Tý không để trên ngực lại bỏ xuôi xuống chân và khi lạy không đưa tay khỏi đầu.

- Khi NHẠC TẤU QUÂN THIÊN đứng không yên lại còn nói chuyện làm mất vẻ tôn nghiêm trong thời cúng thất lễ với Đức Chí Tôn.

Sau khi cứu xét tờ tường trình nói trên của HỘ ĐÀN PHÁP QUÂN, HỘI THÁNH nhận thấy việc bắt ẤN TÝ trọng hệ giữ THỂ PHÁP VÀ BÍ PHÁP cho người hành lễ. Hưởng mầu nhiệm cùng chăng là do ấn chứng đúng PHÁP; bởi cớ nên ĐỨC CHÍ TÔN có dạy trong Thánh Ngôn và Hội Thánh cũng đã có ấn định rành rẽ trong Kinh-lễ. Để nghiêm chỉnh giữ đúng ẤN PHÁP nhứt luật và sự tôn nghiêm trong giờ hành lễ hầu tránh thất lễ với Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng liêng nên HỘI THÁNH quyết định triệt để thi hành các khoản sau đây:
1. Phần bắt ẤN cúng Thầy phải giữ đúng theo lời dạy của Đức Chí Tôn và Hội Thánh, nghĩa là ngón tay cái trái bấm vào ẤN TÝ rồi nắm lại; bàn tay mặt áp ngoài, ngón cái tay mặt bấm vào ẤN DẦN chớ không được gát ngang qua ngón trỏ bàn tay trái hoặc thọc sâu bên trong lòng bàn tay trái là trái Pháp. Bởi Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần; đó là Bí Pháp của Đức Chí Tôn vậy

2. Khi bắt Ấn Tý luôn luôn phải để ngay ngực tức là để tại Tâm, không được để xuôi theo chân, hay rún và khi lạy phải đưa tay lên chí trán, chẳng nên đưa khỏi đầu hoặc thấp hơn.

3. Trong khi còn đứng NHẠC TẤU QUÂN THIÊN thì phải giữ nghiêm trang yên lặng ngó ngay THIÊN NHÃN ở Bát Quái Đài tịnh tâm tưởng niệm cung nghinh ĐỨC CHÍ TÔN. Không được nói chuyện, hoặc ngó qua, ngó lại để tỏ lòng tôn kính tránh thất lễ vì Đức Chí Tôn có dạy nơi Thánh Ngôn: “như Đàn nội chẳng nghiêm, THẦY không giáng”

Ước mong Chư Chức Sắc, Chức Việc và Bổn Đạo nam, nữ lưu tâm thực hành các điều khuyên nhắc trên đây, chẳng những giúp cho mình được hưởng nhiệm mầu của Ơn Trên bố hóa mà còn gìn nghiêm luật của nền Đại Đạo để khỏi thất Pháp.
Q.THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN ban hànhThông tri này cho toàn thể Chức Sắc, Chức Việc và Bổn Đạo tuân hành nhứt luật.
Nay kính,
TÒA THÁNH, ngày 6 tháng 2 nămTân Hợi (dl 2/3/1971)

THÁI CHÁNH PHỐI SƯ Q.THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

THÁI BỘ THANH THƯỢNG TỬNG THANH NGỌC NHƯỢN THANH

XL T.V. VP NỮ CHÁNH PHỐI SƯ

PS HƯƠNG NGỘ

Phê kiến

ĐẦU SƯ NỮ ĐẦU SƯ
CHƯỞNG QUẢN CTĐ NAM PHÁI CHƯỞNG QUẢN CTĐ NỮ PHÁI

THƯỢNG SÁNG THANH HƯƠNG HIẾU
Vâng lịnh ban hành
Nội chánh, ngày 6 tháng 2 năm Tân Hợi (dl 2/3/1971)
Q. THƯỢNG THỐNG LẠI VIỆN
GIÁO SƯ NGỌC TỊNH THANH




VĂN KIỆN 4:
ẤN TÝ LÀ GÌ? CÁCH BẮT ẤN TÝ NHƯ THẾ NÀO?

Ấn là dấu hiệu đặc biệt về mặt đạo có tác dụng huyền bí do hai bàn tay kết lại tạo ra. Tý là chi đầu tiên trong Thập nhị Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.v…v. . .
Ấn Tý là cái ấn đặc biệt của Đạo Cao Đài, cách bắt như sau:

Trên bàn tay trái, vị trí của Tý ở tại chân ngón áp út, Sửu ở chân ngón giữa và Dần ở chân ngón trỏ. Ấn Tý là cái ấn mà ngón tay cái của bàn tay trái co lại chỉ vào chi Tý rồi nắm lại, bàn tay mặt bao lấy bên ngoài bàn tay trái mà ngón cái chỉ vào chi Dần của bàn tay trái.

Cách bắt Ấn Tý có ý nghĩa về sự tạo thành Trời Đất và Nhơn loại, theo quan niệm của người xưa ở đông phương: Thời gian tạo thành càn khôn vũ trụ và vạn vật được chia làm 12 khoản, mỗi khoản thời gian được gọi là Hội và đặt tên theo Thập nhị Địa chi: Hội Tý là Hội đầu tiên, kế đến Hội Sửu, sau đó là Hội Dần, vv. . .

Thiên khai ư Tý: Trời mở ra ở hội Tý.
Địa tịch ư Sửu: Đất mở ra ở hội Sửu (tịch là mở).
Nhơn sanh ư Dần: Người sanh ra ở hội Dần.

Các hội tiếp theo là sự tiến hóa của trời, đất, người và vạn vật đến chỗ hoàn hảo.

Ấn Tý là ấn đặc biệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn đặt ra. Cho nên trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, mỗi khi lạy tín đồ đều phải bắt Ấn Tý trong tất cả các trường hợp; dù đó là lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, lạy các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, hay lạy Cửu Huyền Thất Tổ, lạy Vong phàm.

Description: http://www-personal.usyd.edu.au/~cdao/booksv/99CauHoiDap/batanty.jpg


Hình: Hai tay bắt như vậy gọi là Ấn Tý.

(Trích câu 40 của quyển 99 câu hỏi đáp về Đ.Đ.T.K.P.Đ.)




VĂN KIỆN 5.

BÀI THUYẾT ĐẠO CỦA ĐỨC HỘ PHÁP NĂM 1947

A. “Bần đạo nhắc lại; người tín đồ Cao Đài luôn luôn nằm lòng lời minh thệ, đó là nghĩa vụ mà cũng là quyền lợi của mình. Phải ghi tâm mới giữ được sự thương yêu, bạn đồng môn và chúng sanh là con chung của Đức Chí Tôn để khỏi bị thất thệ mà mình đã hứa: Hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài…”.

Cúng lạy phải tuân thủ tuyệt đối, thực hành nghiêm chỉnh và hoàn chỉnh.

“Đàn không nghiêm thì Thầy không giáng”

Chí Tôn đã dạy bắt Ấn Tý khi bái lễ hai tay con chấp lại; xong phải để tay trái bắt Ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới tay trái Ấn Tý và chụp lên trên. Nghĩa là đầu ngón cái tay trái điểm vào góc ngón áp út (cung Tý) nắm chặc lại để khuỷu ngón tay trái ấn vào góc ngón tay giữa (cung Sửu) tay mặt ngửa ra đỡ bàn tay trái rồi nắm lại; ngón cái của tay mặt điểm vào góc ngón trỏ của tay trái (cung Dần) nắm chặc lại. Tức nhiên, các ngón của tay mặt không che khuất gốc của 3 ngón: áp út, giữa và trỏ của bàn tay trái (tức 3 cung Tý, Sửu, Dần)

Ấn Tý là thể hiện Đức Chí Tôn nắm trọn Tam Tài: THIÊN, ĐỊA, NHƠN.

Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần.

Nhớ giữ Ấn Tý nơi ngực cho chặc, mắt ngó ngay Thiên Nhãn, đó là phương pháp tịnh tâm. Thể pháp hoàn chỉnh mới mong tìm được bí pháp đó vậy. Khi bắt Ấn Tý tức điểm đủ Tam tài; xá và lạy cũng thực hiện Tam tài đến với bản thể của chúng ta ở thể pháp mà kinh Phật mẫu có câu:

…Lập Tam Tài định kiếp hòa căn,

Chuyển luân định phẩm cao thăng…

Vậy Ấn Tý tiêu biểu cho Tam Kỳ Phổ Độ để chư môn đệ của Thầy sử dụng khi bái lễ Đức Chí Tôn, Đức Phật mẫu và các Đấng. Nếu bắt Ấn Tý không đúng, để bàn tay phải (âm) khi nắm lại trùm phủ 3 cung Tý, Sửu, Dần; tức bao trùm Tam Tài THIÊN, ĐỊA, NHƠN ở bàn tay trái (dương) là một điều sai lạc rất hệ trọng: “Dương thạnh tất sanh, Âm thạnh tất tử” sẽ có ảnh hưởng đến nghiệp Đạo.

Chí tôn đã dạy: Nơi lòng Thầy ngự, hễ động Thầy hay; nên Ấn Tý luôn ở nơi ngực, tuyệt đối không được thả xệ xuống bụng mà thất lễ. Bần đạo nhắc lại lần nữa, khi xá và lạy đều thể hiện kỉnh đủ Tam Tài: THIÊN, ĐỊA, NHƠN.

- Đưa tay lên trán; kỉnh THIÊN.

-Xá thẳng hết tay, đầu hơi cúi: kỉnh ĐỊA.

-Đưa về nơi ngực: kỉnh NHƠN.

Đức Chí Tôn đã dạy:”Thập nhị khai Thiên là Thầy, Chúa của cả Càn Khôn thế giới. Nắm trọn thập nhị Thời thần vào tay, số 12 là số riêng của Thầy”.

Bái lễ Đức Chí Tôn thì 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật phải niệm danh Thầy:

Nam-mô CAO- ĐÀI TIÊN- ÔNG ĐẠI BỒ- TÁT MA- HA- TÁT.

Còn làm lễ Đức Phật mẫu cũng 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm:

Nam-mô DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN.

Dưới đậy là hình minh họa bắt Ấn Tý theo đúng lời Đức Hộ Pháp dạy

Description: C:\Users\KIMLIEN\Downloads\HINH DI BA 001.jpg

B. ĐỨC CHÍ TÔN PHÂN ĐỊNH VIỆC CÚNG TỨ THỜI

Tứ thời gồm 4 thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Tý, Ngọ cúng rượu; Mẹo, Dậu cúng trà. Là một ý nghĩa huyền bí cao siêu để cho con cái của Ngài được hưởng bí pháp vô vi là cái đặc ân của Ngài ban cho đó vậy.

Thời Tý, Ngọ cúng rượu. Rượu rót mỗi ly 3 phân; ba ly cộng lại là 9 phân (CỬU THIÊN KHAI HÓA). Mẹo, Dậu rót nước trắng và nước trà: rót 8 phân. Nước trắng là Dương, nước trà là Âm. Ý nghĩa Âm Dương tương đồng.

CẦU NGUYỆN KHI DÂNG TAM BỬU

DÂNG BÔNG: con nguyện dâng hiến thể xác này cho Thầy tùy phương sử dụng. Xin Thầy ban ân lành cho thể xác con được mạnh khỏe và tươi tắn như bông hoa kia vậy.

DÂNG RƯỢU: con nguyện dâng hiến trí não con cho Thầy tùy phương sử dụng. Xin Thầy ban ân lành cho trí não con được sang suốt và mạnh mẽ như chất rượu kia vây.

DÂNG TRÀ: con nguyện dâng hiến Chơn linh con cho Thầy tùy phương sử dụng. Xin Thầy ban ơn lành cho Chơn linh con được tráng kiện thơm tho như trà kia vậy.

CHUNG: CON NGUYỆN DÂNG THỂ XÁC, TRÍ NÃO, CHƠN THẦN CHO THẦY DÙNG CON TẾ VẬT HY SINH ĐỂ CỨU KHỔ NHƠN LOẠI.

Bần đạo đã giảng Tam Bửu. Tại sao Chí Tôn lấy bông tượng trưng hình hài. Ngài muốn nhìn con cái của ngài bằng giá trị tốt đẹp như mắt thấy cái bông. Ngài lấy rượu là muốn tinh thần loài người cường liệt như rượu mạnh kia vậy. Ngài lấy trà là muốn Chơn linh ta điều hòa như trà vậy. Ngài lại món đó cốt yếu là vậy. Như hiến lễ Đức Phật mẫu, lời cầu nguyện cũng như vậy, song từ “Chí tôn” đổi lại thành “Phật Mẫu”.

Bần đạo nói một điều nên nhớ: khi đến chầu lễ Chí Tôn, không nên mặc đồ lót trong có màu sắc khác mà phải toàn màu trắng (trừ chức sắc, chức việc có sắc phục riêng khi chầu lễ Chí Tôn). Khi đến chầu lễ Phật Mẫu phải toàn màu trắng cả (không phân biệt đạo hữu, chức việc, chức sắc) vì ai cũng là con của Mẹ. bần đạo ban ơn cho toàn thể con cái Đức Chí tôn.



***KẾT LUẬN:

· Như vậy, khi đi chầu lễ Chí Tôn và Phật Mẫu, chúng ta nam và nữ, đều phải mặc quần áo lót trắng; không được mặc quần màu ở trong rồi mặc chồng quần trắng ở ngoài.

· Việc bắt Ấn Tý đúng rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự thịnh suy cuả nghiệp Đạo. Đến nay, THC mới cho biết bài thuyết Đạo năm 1947 này. Không hiểu vì sao có sự chậm trễ lâu dài đến thế. Chúng ta, kẻ hậu bối, khi biết rồi nên sửa lỗi, bắt Ấn Tý cho thật đúng vì Đức Hộ Pháp đã dạy thể pháp và bí pháp có tương liên mật thiết với nhau.



PHỤ LỤC

TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG MÀU SẮC TRÊN THỂ VÍA

Sự sống của Thượng Đế- Tinh thần- càng giáng sâu xuống những cõi dưới, các lớp vỏ bao bọc bên ngoài càng dày nặng. Chỉ cái lớp vỏ sau cùng, lớp nặng trược hơn cả, mới tạo thành hình hài vật chất. Khi nói sang qua một cõi khác, không có nghĩa là di chuyển trong không gian mà là sự chuyển tâm thức từ một thể chất nầy qua một thể chất khác.
BẢY THỂ CỦA CON NGƯỜI.
Nói một cách đơn giản, thể xác là thể hành động và hiểu biết, thể phách là thể sinh lực, thể vía là thể tình cảm và dục vọng, thể trí là thể tư tưởng cụ thể. CHƠN LINH là thể tồn tại từ kiếp nầy sang kiếp sau nên nhớ được các kiếp con người. Còn thể Bồ đề và Kim thân chỉ được phát triển khi nào con người được điểm đạo hay được thu nhận làm đệ tử.

TAM THỂ XÁC THÂN-BA YẾU TỐ TIẾN HÓA
Trong ngôn ngữ Cao Đài, ba yếu tố đó là: phàm nhơn, chơn thần, chơn linh
1. Phàm nhơn (Physical body)
Phàm nhơn gồm ba thể hữu hoại : thể xác, thể vía và thể trí. Tuy chúng nó hữu hoại, mỗi thể đều lưu lại một hạt trường tồn, được gọi là nguyên tử trường tồn.
Nhờ các kinh nghiệm thu thập nhứt là ở cõi Trần, phàm nhơn phát triển sự hiểu biết của mình. Ở cõi Hạ thiên, những điều hiểu biết nầy chuyển thành những quan năng để phát triển ở các kiếp sau.
2. Chơn Thần (Spiritual Body, Périspirit)
Với mức tiến hóa hiện nay của chúng ta, Chơn thần là con người thật, vì Chơn linh (monad) là một điều rất cao xa đối với chúng ta. Mục đích của đời sống con người là trau giồi Chơn thần để nó có thể hòa hợp với Chơn Linh. Chỉ có hành động vị tha và vô ngã mới giúp chúng ta đạt được mục đích đó. Đức Phật dạy: “Các lý thuyết của bạn về Thượng Đế không đáng lưu ý. Hãy hành thiện, hãy nhân từ. Chính những điều đó đưa các bạn đến sự giải thoát và đến Chân lý.”
3. Chơn Linh.
Chơn Linh là đơn vị tâm thức, là Điểm Linh Quang của ngọn lửa thiêng của Thượng Đế được chuyển xuống cõi Đại Niết Bàn như là những sinh linh riêng biệt. Chúng có tất cả các quyền năng thiêng liêng trong trạng thái tiềm tàng và các quyền năng nầy sẽ phát triển khi Chơn thần được tinh luyện với các kinh nghiệm do phàm nhơn thu thập. Nhờ đó, con người, một Thánh linh mơ ngủ sẽ trở thành một Thánh linh thức tỉnh và linh hoạt.
HÀO QUANG (Aura).
Hào quang là toàn thể các thể tinh vi của con người. Đôi khi, danh từ nầy chỉ cái phần các thể ấy vượt ra khỏi xác thân. Hình dáng, màu sắc của nó tùy sự tiến hóa của mỗi người. Ai thấy nó được thì biết trình độ tiến hóa của người ấy như thế nào. Nhờ tác động của tư tưởng, nó có thể tạo một cái vỏ bảo vệ chống với các tư tưởng và dục vọng của kẻ khác.
NGƯỜI CHẾT THẤY CHÚNG TA KHÔNG ?
Họ thấy dễ dàng thể vía chúng ta và do đó biết được các tình cảm và cảm xúc của chúng ta và những tư tưởng liên hệ. Những hình tư tưởng đẹp đẽ, rõ ràng, tươi sáng và thanh khiết là hình dáng của những tư tưởng thanh cao. Trái lại, những tư tưởng lu mờ, xấu xí, âm u là triệu chứng của những tánh tình đê tiện.
Ở cõi Thượng giới, chất thượng thanh khí tượng hình với mỗi chuyển động của tư tưởng. Và ở đây vì không còn bị kềm chế bởi các hạ thể, tư tưởng phát biểu dễ dàng bằng hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Ở trần gian, ta không biết rõ bạn ta. Trái lại, ở Thiên đàng, chúng ta biết họ trọn vẹn vì đọc được tư tưởng của họ.
Description: http://www.huongclass.com/images/stories/ebook/astral%20body.png Description: http://www.huongclass.com/images/stories/ebook/body.png

Màu sắc đại diện cho cảm xúc của con người liên kết với hình thái tư tưởng. Ý niệm càng trong sáng và hình thành tốt bao nhiêu thì hình thái tư tưởng kết hợp với ý niệm đó càng trong sáng và hình thành tốt bấy nhiêu. Ta nâng cao những hình thái tư tưởng này bằng cách tập trung vào những tư tưởng mà chúng đại diện. Những tư tưởng quen thuộc trở thành những lực "kiến tạo tốt" mạnh mẽ sẽ tác động đến cuộc đời của ta. Cơ thể này thâm nhập những cơ thể đậm đặc hơn mà nó bao quanh. Màu của nó thay đổi từ những màu sáng chói đến những màu xám xỉn, tùy theo tình trạng sáng suốt hay lẫn lộn của cảm giác hay của năng lượng sản sinh ra chúng. Những cảm giác trong sạch và có năng lượng cao như yêu thương, kích động, vui mừng hay giận dữ thì sáng và trong trẻo; những cảm giác rối rắm thì tối và xám xịt. Cơ thể này chứa tất cả màu sắc của cầu vồng. Từng luân xa trông giống như một cuộn xoáy nhiều màu và theo các màu sắc của cầu vồng.

Đức Hộ Pháp không giải thích vì sao phải mặc toàn trắng, trong lẫn ngoài; nhưng qua tìm hiểu trên, chúng ta biết rằng màu sắc ảnh hưởng lên thể phách, thể vía. Các Đấng thiêng liêng sẽ nhận biết lòng thành tâm và sự tiến hóa của mỗi linh hồn qua màu sắc của các thể. Vì vậy, khi dâng lễ cho Đức Chí Tôn và Đức Phật mẫu, các tín hữu Cao Đài nhớ làm đúng theo lời dạy của Ngài.

Nếu tìm hiểu thêm, chúng ta biết rằng màu trắng là màu có độ sáng cao. Phần lớn các nhà khoa học tin rằng màu trắng là màu nền tảng của ánh sáng; và các màu khác chỉ được tạo thành bằng cách bổ sung thêm một cái gì đó vào ánh sáng. Newton đã chứng minh rằng màu trắng được tạo thành bởi tổ hợp của các màu khá

27/07/2026
25/07/2026

Những Triết Lý Trong Đạo Cao Đài.

Trong triết lý và kiến trúc của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh), việc đặt Tháp chuông thuộc Dương (Nam phái) và Tháp trống thuộc Âm (Nữ phái) mang ý nghĩa tâm linh, dịch lý sâu sắc và quy định nghiêm ngặt về phân vị hành lễ:1. Ý nghĩa Dịch lý (Âm Dương Đông Tây)Bạch Ngọc Chung Đài (Tháp chuông U Minh): Đặt ở phía bên phải Đại Đồng Xã (từ ngoài nhìn vào Đền Thánh), tức là hướng Đông. Trong Dịch lý, phương Đông thuộc Mộc, hành Dương, là nơi mặt trời mọc (khởi đầu của sự sống). Do đó, tháp chuông đại diện cho tính Dương, gắn liền với phần lối đi và khu vực hành lễ của Nam phái.Lôi Âm Cổ Đài (Tháp trống Lôi Âm): Đặt ở phía bên trái (từ ngoài nhìn vào), tức là hướng Tây. Phương Tây thuộc Kim, hành Âm, là nơi mặt trời lặn. Do đó, tháp trống đại diện cho tính Âm, gắn liền với phần lối đi và khu vực hành lễ của Nữ phái.2. Ý nghĩa Tâm linh và Chức năng hành lễTiếng Chuông (Dương): Chuông U Minh phát ra âm thanh thanh thoát, có đặc tính "thấu triệt", dùng để cảnh tỉnh chơn hồn, đặc biệt là thức tỉnh các vong linh tội lỗi ở cõi Âm Quang (độ tử). Việc vận hành năng lượng Dương để khai mở, cứu vớt này luật Đạo giao cho Nam phái thực hiện.Tiếng Trống (Âm): Tiếng trống Lôi Âm có âm trầm, có tính chất "thu nhiếp" và giữ nhịp điều hòa tinh thần. Trong các đàn cúng, tiếng trống đóng vai trò phối hợp tạo nên sự hài hòa Âm Dương (chuông trống hiệp hòa). Vì thuộc tính Âm, tháp trống tương ứng với vị trí tọa lạc bên phần đất quản lý của Nữ phái.3. Sự đồng bộ trong Nghi lễ ĐạoNguyên tắc "Nam tả Nữ hữu" (tính từ trong chánh điện nhìn ra ngoài cửa) được áp dụng đồng bộ tuyệt đối từ kiến trúc đến vị trí con người:Khi đứng trong Bửu Điện cúng, Nam phái đứng bên trái (nhìn từ trong ra, tức phía Tháp chuông), Nữ phái đứng bên phải (tức phía Tháp trống).Sự phân lập kiến trúc Đông - Tây này đảm bảo dòng năng lượng Âm Dương trong các thời cúng không bị xáo trộn hay xung đột, giúp đàn cúng đạt được sự thanh tịnh và cảm ứng thiêng liêng cao nhất.

25/07/2026

NỬ PHÁI CÓ TRỰC CHUÔNG U MINH KHÔNG?
Theo Đạo Cao Đài

Trong triết lý và kiến trúc của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh), việc đặt Tháp chuông thuộc Dương (Nam phái) và Tháp trống thuộc Âm (Nữ phái) mang ý nghĩa tâm linh, dịch lý sâu sắc và quy định nghiêm ngặt về phân vị hành lễ:

1. Ý nghĩa Dịch lý (Âm Dương Đông Tây)

Bạch Ngọc Chung Đài (Tháp chuông U Minh): Đặt ở phía bên phải Đại Đồng Xã (từ ngoài nhìn vào Đền Thánh), tức là hướng Đông. Trong Dịch lý, phương Đông thuộc Mộc, hành Dương, là nơi mặt trời mọc (khởi đầu của sự sống). Do đó, tháp chuông đại diện cho tính Dương, gắn liền với phần lối đi và khu vực hành lễ của Nam phái.

Lôi Âm Cổ Đài (Tháp trống Lôi Âm): Đặt ở phía bên trái (từ ngoài nhìn vào), tức là hướng Tây. Phương Tây thuộc Kim, hành Âm, là nơi mặt trời lặn. Do đó, tháp trống đại diện cho tính Âm, gắn liền với phần lối đi và khu vực hành lễ của Nữ phái.

2. Ý nghĩa Tâm linh và Chức năng hành lễ

Tiếng Chuông (Dương): Chuông U Minh phát ra âm thanh thanh thoát, có đặc tính "thấu triệt", dùng để cảnh tỉnh chơn hồn, đặc biệt là thức tỉnh các vong linh tội lỗi ở cõi Âm Quang (độ tử). Việc vận hành năng lượng Dương để khai mở, cứu vớt này luật Đạo giao cho Nam phái thực hiện.

Tiếng Trống (Âm): Tiếng trống Lôi Âm có âm trầm, có tính chất "thu nhiếp" và giữ nhịp điều hòa tinh thần. Trong các đàn cúng, tiếng trống đóng vai trò phối hợp tạo nên sự hài hòa Âm Dương (chuông trống hiệp hòa). Vì thuộc tính Âm, tháp trống tương ứng với vị trí tọa lạc bên phần đất quản lý của Nữ phái.

3. Sự đồng bộ trong Nghi lễ Đạo

Nguyên tắc "Nam tả Nữ hữu" (tính từ trong chánh điện nhìn ra ngoài cửa) được áp dụng đồng bộ tuyệt đối từ kiến trúc đến vị trí con người:

Khi đứng trong Bửu Điện cúng, Nam phái đứng bên trái (nhìn từ trong ra, tức phía Tháp chuông), Nữ phái đứng bên phải (tức phía Tháp trống).

Sự phân lập kiến trúc Đông - Tây này đảm bảo dòng năng lượng Âm Dương trong các thời cúng không bị xáo trộn hay xung đột, giúp đàn cúng đạt được sự thanh tịnh và cảm ứng thiêng liêng cao nhất.

Văn bản 1

Dựa trên hai văn bản gốc làm cốt lõi pháp lý là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, Pháp Chánh Truyền hoàn toàn KHÔNG CHO PHÉP Nữ phái trực (dộng) chuông U Minh.

Dù đối chiếu theo góc độ Hiến pháp Đạo, quy định này được quy định gián tiếp nhưng tuyệt đối thông qua luật định phân quyền Nam Nữ phái:

1. Chiếu theo Pháp Chánh Truyền: Luật phân quyền đối phẩm tuyệt đối

Lập vị riêng biệt: Pháp Chánh Truyền Chú Giải (Nữ phái) quy định Đức Chí Tôn đến lập lệ Nam Nữ Phái phân biệt nhau, "chẳng đặng chung hiệp nhau về phần xác và phần hồn cũng vậy".

Giới hạn tột phẩm: Nữ phái được lập Hội Thánh riêng, có quyền hành đồng đẳng ở các phẩm dưới, nhưng Pháp Chánh Truyền truất quyền Nữ Phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông.

Hệ quả hành lễ: Vì chức năng điều hành tối cao thuộc về Nam phái, các phần việc đại diện cho "Dương pháp" – bao gồm việc điều hành tháp chuông Bạch Ngọc Chung Đài (chuông U Minh) nằm hoàn toàn bên phần sơ đồ kiến trúc và lối đi của Nam phái – mặc nhiên chỉ do nam chức sắc, chức việc hành trì. Nữ phái chỉ tùng quyền Đầu Sư Nữ để quản lý nội bộ nữ giới.

2. Chiếu theo Tân Luật: Quy tắc phân lập kiến trúc và hành lễ

Chương V (Về Lễ Chánh): Tân Luật Cao Đài quy định mọi nghi thức cúng kính tại Đại Điện Tòa Thánh hay Thánh Thất địa phương đều phải tôn trọng sự nghiêm tịnh và ranh giới nam nữ.

Quy định ranh giới tại cơ sở: Do Tháp chuông U Minh luôn đặt ở phía hữu (bên phải từ ngoài nhìn vào – thuộc lối đi của Nam phái), một tín đồ Nữ phái nếu bước sang khu vực tháp chuông để trực dộng chuông sẽ vi phạm điều cấm về việc "chung hiệp về phần xác" và làm xáo trộn trật tự tôn nghiêm của đàn cúng quy định trong Tân Luật.

3. Sự đồng bộ giữa Luật và Tài liệu Hạnh Đường

Như vậy, quy định truyền khẩu hay quy định tập huấn trong Hạnh Đường (như khóa năm 1970) chính là sự cụ thể hóa một cách nghiêm cẩn tinh thần cốt lõi của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật vào thực tế hành lễ tại các địa phương. Nam tả Nữ hữu, việc ai nấy làm, không được lấn quyền hay phạm luật của nhau.

Văn bản 2

Chiếu theo hai văn bản gốc làm cốt lõi pháp lý tối cao là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tòa Thánh Tây Ninh), Nữ phái hoàn toàn KHÔNG ĐƯỢC PHÉP trực (dộng) chuông U Minh.

Dù hai văn bản này không dùng câu chữ trực tiếp cấm đoán từ "chuông U Minh", nhưng lệnh cấm này được quy định một cách tuyệt đối thông qua Luật phân quyền Nam Nữ và Cơ cấu Kiến trúc Đạo:

1. Chiếu theo Pháp Chánh Truyền: Luật phân quyền đối phẩm tuyệt đối

Lập vị riêng biệt: Pháp Chánh Truyền Chú Giải (Phần Nữ phái) ghi rõ: Đức Chí Tôn đến lập lệ Nam Nữ Phái phân biệt nhau, "chẳng đặng chung hiệp nhau về phần xác và phần hồn cũng vậy".

Giới hạn quyền hành chánh tối cao: Nữ phái tuy có quyền hành đồng đẳng ở các phẩm dưới, nhưng Pháp Chánh Truyền quy định Nữ Phái không được lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông (hai phẩm cầm quyền luật pháp và hành chánh tối cao điều hành toàn bộ cơ cấu hữu hình).

Hệ quả hành lễ: Vì chức năng quản lý tối cao thuộc về Nam phái, tất cả các phần việc mang tính chất đại diện cho "Dương pháp" – bao gồm tháp chuông Bạch Ngọc Chung Đài (nơi đặt chuông U Minh) nằm hoàn toàn bên phần sơ đồ kiến trúc và lối đi của Nam phái – mặc nhiên chỉ do nam chức sắc, chức việc hành trì. Nữ phái "duy có quyền điều hành bên Nữ phái mà thôi".

2. Chiếu theo Tân Luật: Quy tắc phân lập kiến trúc Đông Tây

Chương V (Về Lễ Chánh): Tân Luật buộc mọi nghi thức cúng kính tại Đại Điện Tòa Thánh hay Thánh Thất địa phương phải tuân thủ trật tự nghiêm tịnh tuyệt đối.

Quy chuẩn Nam Tả Nữ Hữu: Tháp chuông U Minh luôn đặt ở phía Hữu (bên phải từ ngoài nhìn vào – tức bên phần lối đi và vị trí đứng cúng của Nam phái). Tháp trống Lôi Âm đặt ở phía Tả (bên trái – thuộc phần Nữ phái).

Nếu một tín đồ Nữ phái bước sang khu vực tháp chuông của Nam phái để trực dộng chuông, hành động này lập tức vi phạm điều cấm về việc "chung hiệp về phần xác", làm xáo trộn trật tự tôn nghiêm của đàn cúng được quy định nghiêm ngặt trong Tân Luật.

3. Bản chất của tài liệu Hạnh Đường 1970

Tài liệu tập huấn Hạnh Đường năm 1970 thực chất không tự đặt ra luật mới, mà là văn bản cụ thể hóa tinh thần cốt lõi của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật để hướng dẫn Chức việc Bàn Trị Sự áp dụng đồng bộ tại các địa phương. Do đó, việc Nữ phái không trực chuông U Minh là một luật định bất di bất dịch xuyên suốt từ Hiến pháp Đạo cho đến thực hành nghi lễ.

25/07/2026

Trực chuông u minh.Theo Đạo Cao Đài

Hạnh Đuờng 1970

Đối với Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, Nữ phái hoàn toàn KHÔNG ĐƯỢC trực (dộng) chuông U Minh.Quy định này được kiểm soát rất nghiêm ngặt dựa trên luật pháp và quy điều hành chánh đạo lý giải qua các khóa huấn luyện Hạnh Đường tại Tổ đình Tây Ninh:
1. Nguyên tắc Phân định Nam Nữ phái tại Tòa Thánh Tây NinhLối đi riêng: Ngay từ quy định cơ bản nhất, khi vào Đại Điện cúng đàn, Nam phái đi cửa bên phải, Nữ phái đi cửa bên trái.Vị trí tháp chuông - trống: Tháp chuông U Minh (Bạch Ngọc Chung Đài) nằm ở phía bên phải lối vào (thuộc phần quản lý và hành lễ của Nam phái).
Tháp trống Lôi Âm (Lôi Âm Cổ Đài) nằm ở phía bên trái (phía Nữ phái).Quy định trực chuông: Do tháp chuông nằm hoàn toàn bên phần đất và lối đi của Nam phái, người trực chuông và ngâm Kệ U Minh bắt buộc phải là chức sắc, chức việc hoặc đạo hữu thuộc Nam phái đảm nhiệm luân phiên.
Nữ phái không được phép bước sang khu vực này để hành lễ trực chuông.
2. Ý nghĩa Tâm linh và Luật ĐạoTrách nhiệm độ tử: Việc dộng chuông U Minh diễn ra liên tục suốt ngày đêm trong 3 tháng Ngươn (tháng 1, tháng 7, tháng 10 âm lịch). Tiếng chuông thấu đến cõi Âm Quang để thức tỉnh và cứu vớt các chơn hồn tội lỗi.Yêu cầu về Đạo lực: Người trực dộng chuông bắt buộc phải giữ gìn sự thanh tịnh tuyệt đối về cả thể xác lẫn tinh thần (ăn chay trường hoặc tuân thủ nghiêm ngặt chu kỳ nghiêm túc). Luật đạo Tây Ninh giao trọng trách vận hành năng lượng điều hòa cõi âm này cho bên Nam phái.Vì vậy, theo đúng chơn truyền và luật đạo của Cao Đài Tây Ninh, Nữ phái chỉ tập trung hành lễ cúng kính bên phía phần đạo diện của mình và không tham gia trực dộng chuông U Minh.

Theo các tài liệu và quy định về luật pháp, nghi lễ đạo Cao Đài (liên quan đến tài liệu huấn luyện Hạnh Đường 1970), việc Nữ phái không được trực (dộng) chuông U Minh là quan điểm kiêng kỵ và quy định truyền khẩu phổ biến trong nội bộ một số hội thánh/họ đạo.Quy định và Quan niệm về Nữ phái với Chuông U MinhPhân định Âm Dương: Trong nghi lễ Cao Đài, tháp chuông U Minh thường gắn với năng lượng hành trì, đạo lực mạnh và các cõi âm quang.Quan điểm kiêng kỵ: Theo truyền thống và sự cắt nghĩa của một số bậc tiền bối, việc trực chuông U Minh đòi hỏi người hành trì phải có đạo lực thâm hậu, giữ gìn thanh tịnh tuyệt đối (ăn chay trường hoặc ít nhất 10 ngày, tránh sinh hoạt nhân luân), nên giới Nữ phái theo quan niệm cũ không đảm nhận việc trực chuông này tại Bửu Điện/Thánh Thất.Phạm vi áp dụng: Quy định này phân chia rõ vai trò nam nữ trong các cơ quan hành chánh và nghi lễ,

Address

259
Ba Ria

Telephone

+84369970921

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thánh Thất Cao Đài Toronto posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share