11/08/2021
MƯỜI LỜI THỀ DANH DỰ CỦA QUÂN NHÂN
Ngày 22/12/1944, dưới lá cờ đỏ sao vàng, 34 cán bộ, chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã long trọng tuyên đọc 10 lời thề danh dự tại một khu rừng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, Cao Bằng. Từ đó đến nay, bất kỳ ai đã là quân nhân trong QĐND Việt Nam đều phải thuộc từng câu từng chữ trong 10 lời thề danh dự.
Mười Lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bản hùng văn thấm đượm nét văn hóa đặc sắc Bộ đội Cụ Hồ. Người soạn thảo ra nó là Giáo sư sử học - người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Mười Lời thề danh dự được đọc lần đầu tiên trong Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944) với tên gọi "Những quy định của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể về thời khắc lịch sử này như sau: “Giữa mùa đông, khí trời nơi non cao lạnh buốt. Trong khu rừng đại ngàn với những hàng cây thẳng tắp. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lần đầu tiên tập họp đội ngũ chỉnh tề, dưới lá cờ sao đỏ thắm.
Đại diện Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng cùng với rất đông đại biểu nhân dân Tày, Mán, Nùng của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn đến tham dự, đứng thành hai hàng hai bên bộ đội. Tôi được ủy nhiệm thay mặt Đoàn thể tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và vạch rõ nhiệm vụ của Đội đối với Tổ quốc”.
Sau lời tuyên bố của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đại diện của Liên tỉnh ủy đọc thư chúc mừng, đại diện các tổ chức nông dân, thanh niên, phụ nữ, các đội vũ trang địa phương cũng lên chúc mừng Đội. Kế đó, lễ tuyên thệ của Đội diễn ra. Mười Lời thề danh dự do đồng chí Võ Nguyên Giáp soạn vang lên. 10 lời thề đó cũng là nguồn gốc của 10 lời thề danh dự của quân nhân hiện nay…
Sau này, khi trả lời phỏng vấn một nhà báo Pháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: “Tôi đã soạn lời thề danh dự gồm mười điểm, có tham khảo lời thề danh dự của quân đội nước ngoài, trong đó có lời thề của FFI (Forces francaises de l'Intérieur - nhóm kháng chiến Pháp chống lại quân chiếm đóng Đức trong Thế chiến thứ II) và của quân giải phóng Nam Tư”.
Sau đó, "Những quy định của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" được bổ sung, hoàn chỉnh thành Mười Lời thề danh dự và ghi vào Điều lệnh quản lý bộ đội. Một số chi tiết được thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Nhưng nội dung cơ bản của lời tuyên thệ được giữ nguyên cho đến ngày nay.
Việc bổ sung, hoàn chỉnh Mười Lời thề danh dự cũng thể hiện sự quán triệt tinh thần chỉ đạo của Đảng ta về tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng (Đề cương văn hóa năm 1943) trong văn cách cũng như tính thời sự; làm cho văn phong giản dị, dễ hiểu. Lời lẽ trong Mười lời thề có ý nghĩa tự giáo dục sâu sắc đối với mọi quân nhân.
Với quan điểm đó, Lời thề thứ nhất, từ bản đầu tiên: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật-Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” đã được chỉnh lý, trở nên hoàn chỉnh hơn: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Xin thề!”... Những ví dụ tương tự như thế dễ được nhận ra trong văn bản.
Mười Lời thề danh dự mang tính văn hóa pháp lý, “danh chính ngôn thuận”. Ngày 24/5/1947, tại Hội nghị dân quân, tự vệ, du kích toàn quốc lần thứ nhất, được tổ chức tại Định Hóa, Thái Nguyên, Tổng quân ủy Quân đội Quốc gia và dân quân (tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp) đã công bố Sắc lệnh của Chính phủ ban hành Mười lời thề danh dự.
Ít ngày sau, Cục Chính trị Quân đội Quốc gia và dân quân xuất bản tài liệu "44 câu hỏi về kháng chiến" trong đó có công bố Mười lời thề nói trên. Việc tuyên thệ bằng Mười Lời thề danh dự được Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Nghĩa vụ quân sự quy định: "Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thể chế hóa các điều trên đây trong Điều lệnh nội vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, quy định đọc Mười Lời thề danh dự trong Lễ tuyên thệ chiến sĩ mới và Lễ chào cờ hằng tuần, hằng tháng ở các đơn vị.
Xét trên hai bình diện chính yếu: Văn hóa chính trị và văn hóa đạo đức, Mười Lời thề danh dự đều đạt mức độ đỉnh cao.
Tập trung trước hết ở chỗ, nó là mười điều tâm nguyện thiêng liêng thể hiện phẩm giá của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam trước Tổ quốc; thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự khẳng định Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo-vị thế đầy vinh dự và trách nhiệm, có “kim chỉ nam”, không bao giờ phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng, lẽ sống. Không bao giờ chệch hướng đi.
Phần lớn nội dung Mười Lời thề danh dự là những lời tâm huyết của tự thân người lính đối với những vấn đề căn bản của văn hóa quân nhân - dạng thái đặc biệt của văn hóa làm người nói chung. Đó là lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc, với nhân dân: Hy sinh, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng. Kiên quyết tiêu diệt quân xâm lược. Hết lòng phục vụ nhân dân (Kính trọng dân, Giúp đỡ dân, Bảo vệ dân. Không lấy của dân, Không dọa nạt dân, Không quấy nhiễu dân... Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước. Phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa).
Trong các mối quan hệ căn bản này, người quân nhân cách mạng Việt Nam có tinh thần vì nhân dân mình và vì cả đồng loại (góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội). Đó là ý thức về danh dự và phẩm giá. Giữ vững phẩm chất và truyền thống tốt đẹp, quyết chiến, quyết thắng của quân đội nhân dân, luôn tự phê bình và phê bình, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư... không làm điều gì hại tới danh dự của quân đội và quốc thể. Đó là tinh thần bất khuất trước kẻ thù (nếu bị quân địch bắt, dù phải chịu cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không bao giờ phản bội xưng khai).
Đó là lời thề phấn đấu đến sự thống nhất giữa tình cảm đẹp (tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa) và ý chí cách mạng (kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí) để "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Đó là quan hệ cấp dưới với cấp trên.
Phục tùng mệnh lệnh cấp trên một cách tuyệt đối, không chỉ bằng mặt, mà bằng cả tấm lòng, tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác bất cứ nhiệm vụ gì được giao. Ta nói “quân lệnh như sơn” là thế. Nhờ điều này mà chỉ cần một người chỉ huy là có muôn người như một. Đó còn là tình đồng đội như ruột thịt, lúc thường cũng như lúc ra trận, toàn quân một ý chí - tình cảm chân thành, cụ thể mà cũng rất bao la, rộng lớn.
Như một hệ quả tất yếu, người lính khi đã sáng rõ lý tưởng, đậm đà tình yêu đất nước thì luôn phấn đấu vươn lên: Ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, trước hết là trình độ chính trị, ý thức chấp hành điều lệnh, điều lệ, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy, góp phần xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu.
Những điều nói trên tạo nên sự khác biệt về bản chất giữa Bộ đội Cụ Hồ với người lính thời xưa “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai”, hoặc người lính tư sản, lính đánh thuê vì mục đích lợi nhuận và tham vọng bá quyền.
Mười Lời thề danh dự được cán bộ, chiến sĩ toàn quân học thuộc lòng. Đối với các đơn vị chính quy, Mười Lời thề danh dự được các chiến sĩ đọc vào mỗi buổi sáng thứ hai, khi tập hợp làm lễ chào cờ. Tất cả, không phân biệt cấp chức, đứng nghiêm trang dưới Quốc kỳ. Một chiến sĩ bước lên phía trước đọc Mười lời thề. Kết thúc mỗi lời thề, mọi người đồng thanh hô to: “Xin thề!”.
Chúng tôi đã hỏi các chiến sĩ ở một số đơn vị về trạng thái tâm lý khi đọc Mười Lời thề danh dự. Hầu như họ đều chung một cảm xúc: “Âm thanh phát ra mạch lạc, cuồn cuộn từ lồng ngực. Nhìn lá cờ trên cao, cảm thấy như quê hương, đất nước, non sông đang nghe mình đọc... cảm giác lâng lâng xúc động vô cùng!”.
Mười Lời thề danh dự từng là nguồn cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật. Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã sáng tác vở kịch Lời thề thứ chín cho Đoàn kịch nói Quân đội. Vở diễn sau đó đã được dựng ở Nhà hát Tuổi trẻ và Nhà hát kịch Hà Nội với những thành công vang dội.
Rất nhiều tờ báo, tạp chí, ấn phẩm, trong đó có Từ điển bách khoa Việt Nam (tập III, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội); Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (tập I, NXB QĐND, Hà Nội, 1977, trang 116, 117, 310, 311); Hồ Chí Minh (Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 767) đã đề cập đến Mười Lời thề danh dự.
Gần 77 năm trôi qua, Mười Lời thề danh dự đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt. Đó là sức sống của giá trị văn hóa vĩnh hằng - văn hóa Bộ đội Cụ Hồ. Nhắc nhở mỗi người lính trong đời thường cũng như khi đối mặt với kẻ thù, luôn nêu cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ vinh quang mà Đảng và nhân dân giao phó./.
St