Đại Lý Thức Ăn Vỗ Béo Green Free

Call

Đại Lý Thức Ăn Vỗ Béo Green Free Đại Lý Thức Ăn Vỗ Béo Vật Nuôi

Nuôi chim cút đẻ trứng cho hiệu quả kinh tế cao02/09/2021Vốn đầu tư ban đầu khoảng 60 triệu đồng, sau gần 2 tháng nuôi đ...
02/09/2021

Nuôi chim cút đẻ trứng cho hiệu quả kinh tế cao
02/09/2021
Vốn đầu tư ban đầu khoảng 60 triệu đồng, sau gần 2 tháng nuôi đã cho thu hoạch, lợi nhuận trung bình gần 200 triệu đồng/năm – đó là những gì anh Đào Đức Thưởng, thôn Dũng Tiến, xã Quỳnh Xá (Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) thu được từ mô hình nuôi chim cút đẻ trứng hơn 7 năm qua.Sau nhiều năm làm nghề mộc, năm 2014, qua sự giới thiệu của bạn bè về mô hình nuôi chim cút đẻ trứng, anh Thưởng quyết định bỏ vốn đầu tư chuồng trại, con giống. Với số tiền 40 triệu đồng vay của Quỹ Tín dụng nhân dân Quỳnh Xá cùng vốn liếng của gia đình, anh đầu tư xây dựng gian chuồng trên 40m2 với hơn 50 lồng nuôi khoảng 2.000 con chim cút đẻ trứng.


Anh Thưởng chia sẻ: So với các loại vật nuôi khác, chim cút đẻ trứng dễ nuôi, không vất vả, không tốn diện tích, kinh phí mua con giống ít. Chim cút thường sống ở nơi cao ráo, thoáng mát nên khi làm chuồng nuôi phải thiết kế theo kiểu lồng quây lưới, chia làm nhiều tầng; mỗi lồng khoảng 40 con, có hệ thống máng ăn và nước uống để tránh rơi vãi thức ăn; đáy lồng hơi dốc để khi chim cút đẻ trứng sẽ tự lăn ra khay dưới lồng.



Để giảm chi phí đầu tư cho hệ thống chuồng nuôi và máng nước tự động, với nghề mộc trong tay, anh Thưởng tự nghiên cứu và mua đồ lắp đặt lồng, tự làm máng nước. Vì thế chi phí đầu tư giảm hơn 1 nửa, giúp anh có điều kiện mở rộng chuồng nuôi. Năm 2017, với số vốn tích lũy được và kinh nghiệm nuôi chim cút đẻ trứng, anh quyết định mở thêm chuồng nuôi diện tích 50m2 với hơn 50 lồng và khoảng 2.000 con chim cút đẻ trứng.



Anh Thưởng cho biết: Để chim khỏe, đẻ trứng đều, người nuôi phải nắm chắc kỹ thuật cho ăn, nguồn nước uống, nhiệt độ, ánh sáng và thoáng khí của chuồng nuôi. Yêu cầu chuồng nuôi phải sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, thường xuyên vệ sinh. Nước uống cho chim phải là nước sạch. Đặc biệt là việc chăm sóc phòng, trừ dịch bệnh. Nếu chăm sóc tốt, chim sẽ đẻ trứng liên tục trong vòng 9 – 10 tháng, trung bình mỗi tháng một con chim cút đẻ 25 quả trứng. Hết thời gian thu trứng sẽ bán chim thịt.



Hiện nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 giá có thấp hơn so với những năm trước nhưng vẫn ở mức 450 – 550 đồng/quả. Mỗi ngày với 4.000 con đẻ trứng anh thu hoạch khoảng 3.000 quả, trừ chi phí trung bình mỗi ngày thu gần 500.000 đồng tiền lãi, nếu tính cả bán chim cút thịt thì mỗi năm anh thu lãi gần 200 triệu đồng.



Thời gian tới, nếu nguồn thu nhập ổn định, anh Thưởng có ý định đầu tư mở rộng mô hình nuôi chim cút đẻ trứng và đầu tư hệ thống ấp nở để tự phục vụ cho gia đình. Anh mong muốn có chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi của ngân hàng để đầu tư và mở rộng thêm nhiều chuồng nuôi chim, tăng thu nhập cho gia đình.



Thành công từ mô hình nuôi chim cút đẻ trứng của anh Đào Đức Thưởng khẳng định, nếu có quyết tâm, mỗi người sẽ tìm được cho mình một cách làm riêng và sẽ thành công trên chính mảnh đất quê hương.

02/09/2021

💥 3000đ/1 NGÀY-5 NGÀY LỚN RÕ RÀNG
☘️ Vật nuôi siêu lớn - siêu béo
1. Lớn nhanh, ngủ khỏe, hấp thu tốt
2. B**g mông, nở ngực, tăng chất lượng thịt
--------------------------
=> Rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi , tiết kiệm chi phí
=> Tăng chất lượng thịt, tăng nạc, nở ức, bụng đùi
=> Tăng lợi nhuận gấp 3 lần
Hiệu quả sau 10 - 15 ngày sử dụng sản phẩm
-----------------------
📌 Có đầy đủ sản phẩm cho gia súc, gia cầm, thủy hải sản…
📞 Liên hệ ngay 0334.555.005 để nhận báo giá và tư vấn
Địa chỉ: Nhà máy 3, lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, HN

Các độc tố nấm mốc trong thức ăn của heo31/08/2021[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Các độc tố nấm mốc là các hợp chất có đ...
31/08/2021

Các độc tố nấm mốc trong thức ăn của heo
31/08/2021
[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Các độc tố nấm mốc là các hợp chất có độc được tạo ra bởi các loại nấm mọc trên các nguyên liệu của thức ăn chăn nuôi. Những loại độc tố chính ảnh hưởng tới sức khỏe của heo gồm Aflatoxin, Vomitoxin, Zearelanone, Fumonisin và Ochratoxin. Những độc tố nấm mốc này được tạo ra bởi nấm mốc thuộc các giống Aspergillus, Fusarium và Penicillium.1. Sự hình thành độc tố nấm mốc



Các loại độc tố nấm mốc thường được tạo thành từ một số loại nấm và dưới những điều kiện nhất định (Bảng 1). Chính vì vậy, sự có mặt của nấm mốc trên các loại thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi không đồng nghĩa với việc có mặt của độc tố nấm mốc. Hai yếu tố chính thúc đẩy việc phát triển của nấm và sản sinh ra độc tố là nhiệt độ và độ ẩm. Sự phát triển của nấm đòi hỏi lượng tinh bột có sẵn từ các loại hạt ngũ cốc, ẩm độ, không khí và nhiệt độ phù hợp, thông thường là từ 54°F đến 77°F. Mặc dù sự hình thành của độc tố nấm mốc có thể sảy ra dưới các điều kiện như trên nhưng trên thực tế sự hiện diện của các yếu tố gây stress như khô hạn, nhiệt độ môi trường cao, độ ẩm cao, thiếu dinh dưỡng, tổn thương do côn trùng và vỡ hỏng hạt khi thu hoạch cũng là những yếu tố giúp thúc đẩy việc hình thành độc tố nấm mốc (1).



Có nhiều loại nấm khác nhau có thể sản sinh độc tố các loại độc tố khác nhau nhưng theo phương thức sản xuất được chia thành hai loại: nấm trên cánh đồng và nấm trong bảo quản (2). Nấm trên cánh đồng thường phát triển trên các loại hạt trước khi thu hoạch và đòi hỏi độ ẩm tương đối cao trên 70% và tương độ ẩm của hạt trên 22% để có thể phát triển. Một trong những nấm trên cánh đồng phổ biến là loài Fusarium. Loài này có khả năng sản sinh ra các loại độc tố bao gồm Fumonisin, Vomitoxin, Zearalenone. Nấm bảo quản phát triển trên các loại hạt sau khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản của các hạt hoặc thức ăn sản xuất từ các hat. Những loại nấm này không cần độ ẩm quá cao, thậm chí có thể phát triển trên các hạt có độ ẩm từ 2% đến 8%. Đại diện điển hình của nấm bảo quản bao gồm Aspergillus và Penicillin, hai loại nấm này sản sinh ra độc tố Aflatoxin và Ochratoxin. Mặc dù có sự phân chia thành hai loại nấm như trên nhưng trong một số điều kiện nhất định, các loại nấm bảo quản có thể phát triển trên các loại hạt thậm chí trước khi thu hoạch và ngược lại nấm cánh đồng có thể phát triển tới cả giai đoạn sau thu hoạch. Trường hợp đại diện của loại này là Aspergillus flavus, đây là loài nấm sản sinh ra Aflatoxin. Hơn thế nữa, rất hay gặp trong thực tế đó là các loại hạt và các loại thức ăn có thể có nhiều loại nấm và nhiều loại độc tố nấm mốc trong cùng một thời điểm.



2. Nhiễm độc tố nấm mốc



Các nghiên cứu khảo sát cho thấy, nhiễm độc tố nấm mốc sảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Ở nhũng vùng có thiên hướng nhiễm độc tố nấm mốc cao, ví dụ vùng khí hậu ôn đới thường có sự hiện diện của nấm cánh đồng (loài Furarium) trong khi đó tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thì thường có nhiều nấm bảo quản (Aspergillus và Penicillin). Khi trong vùng địa lý nào đó có các điều kiện thuận lợi cho nấm cánh đồng phát triển, thì các loại hạt của vùng đó bị ảnh hưởng mạnh của độc tố nấm mốc. Trong khi đó, nếu tồn tại các điều kiện thuận lợi cho nấm bảo quản phát triển, thì các loại hạt thường không bị ảnh hưởng như nhau bởi độc tố nấm mốc và sự phân bố của độc tố nấm mốc đa dạng hơn cả đối với các loại hạt khác nhau và cùng một loại hạt được bảo quản trong một kho chứa (3).



Nhiễm độc tố nấm mốc thường sảy ra ở trên các loại hạt như: ngô, cao lương, lúa mỳ, và lúa mạch. Ngô được xem là loại hạt có mức độ nhiễm cao nhất trong các loại hạt (1). Ngoài việc nhiễm trực tiếp vào trong các hạt, các độc tố nấm mốc còn nhiễm vào sản phẩm liên quan đến chúng ví dụ như các sản phẩm tách triết từ các hạt, phụ phẩm tạo ra từ tách triết dinh dưỡng từ các hạt. Điển hình là cho hình thức nhiễm này là DDGS ngô (Corn Distiller Dried Grains with Soluble) (1). Quá trình lên men tạo ra DDGS sẽ dẫn tới việc loại bỏ hầu hết các tinh bột trong hạt ngô, nếu hạt ngô bị nhiễm độc tố nấm mốc, các độc tố này hoàn toàn không bị phá hủy, biến mất trong quá trình lên men, trái lại nó thường được cô đặc lên tới ba lần so với ngô hạt ban đầu (3).



3. Các loại độc tố nấm mốc chính ảnh hưởng tới sức khỏe heo



Trong số các vật nuôi trang trai, heo là loài mẫn cảm mạnh với các bệnh độc tố nấm mốc (mycotoxicosis). Bệnh độc tố nấm mốc trên heo được hiểu là hiện tượng heo bị ngộ độc do ăn phải các hạt hoặc thức ăn nhiễm (chứa) độc tố nấm mốc. Mức độ của bệnh sẽ tùy thuộc vào loại độc tố nấm mốc, nồng độ của chúng có trong thức ăn, cũng như loại heo, lứa tuổi heo. Bảng 2 thể hiện các ảnh hưởng của bệnh độc tố nấm mốc đối với từng loại heo do các nồng độ độc tố khác nhau có trong thức ăn. Trên thế giới, cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã quy định ngưỡng của độc tố Aflatoxin trong nguyên liệu và thức ăn dùng cho heo choai là 20 ppb, heo giết thịt là 200 ppb.



Bệnh độc tố nấm mốc khi sảy ra thường ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan trong cơ thể với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau. Thông thường, heo con và nái mẫn cảm hơn với bệnh và các ảnh hưởng của bệnh rõ ràng hơn so với các nhóm heo khác (2). Hơn thế nữa, việc nhiễm nhiều hơn một loại độc tố trên các cá thể thường phổ biến hơn và điều này thường gây ra nhiều biểu hiện khác nhau (Vila). Mặc dù có khá nhiều dữ liệu nghiên cứu về các ảnh hưởng của một loại độc tố nấm mốc đối với sức khỏe và khả năng sản xuất của heo nhưng những khảo sát, nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiều loại độc tố nấm mốc đối với vật nuôi nói chung và heo là rất ít.



3.1. Aflatoxin



Aflatoxin (AFA) là nhóm độc tố được tạo ra bởi loài nấm Aspergillus trước khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản. Aflatoxin B1 là loại độc tố phổ biến nhất và độc nhất trong nhóm được tạo ra bởi nấm Aspergillus flavus. (AFA) làm ảnh hưởng tới chức năng của gan và gây ức chế miễn dịch của vật nuôi (Osweiler). Nhiễm độc cấp tính (AFA) thường ít sảy ra trên heo và nếu có thì chủ yếu gây ra các bệnh tích ở gan (2). Triệu chứng chủ yếu của dạng nhiễm độc này là do chức năng gan bị ảnh hưởng sẽ gây ra xuât huyết, vàng da, chết bất thình lình. (AFA) ở liều thấp hơn thường được tích lũy trong cơ thể do đó trên heo chủ yếu là nhiễm độc mãn tính (AFA) do ăn phải thức ăn nhiễm hàm lượng thấp độc tố này trong thời gian dài. Biểu hiện chính của dạng nhiễm độc này là heo giảm lượng thức ăn tiêu thụ, giảm tăng trọng. Bên cạnh những biểu hiện chính trên thì có thể có kế phát các bệnh khác do hệ miễn dịch của heo bị suy giảm. Heo con thường mẫn cảm với bệnh độc tố nấm mốc hơn so với heo lớn hơn hoặc heo nái. Một điều cũng đáng quan tâm đó là heo con theo mẹ cũng mẫn cảm với bệnh do độc tố (AFA) do độc tố này được thải qua sữa khi con nái trong giai đoạn nuôi con ăn thức ăn nhiễm (AFA).



3.2. Vomitoxin hay Deoxynivalenol (DON)



Vomitoxin hay còn gọi là Deoxynivalenol (DON) là loại độc tố được tạo ra bởi nấm Furasium graminearum trước khi thu hoạch. DON là độc tố thường thấy nhất trong ngô, lúa mì, và DDGS ở khu vực Nam Mỹ, Châu Âu (Rodrigue) và heo là loài mẫn cảm nhất với loại độc tố này (1). Cơ chế tác động của DON là làm ảnh hưởng tới việc tổng hợp protein của tế bào cơ thể, ức chế hoạt động của hệ miễn dịch và rối loạn truyền thông tin của não bộ. Mặc dù tên gọi của độc tố này có nghĩa là gây nôn tuy nhiên nó không phải là biểu hiện chính của heo nhiễm Vomitoxin. Ngộ độc cấp tính của DON ít khi sảy ra tuy nhiên nếu sảy ra heo thường có các biểu hiện như: ỉa chảy, nôn, xuất hiện bệnh tích nghiêm trọng ở đường tiêu hóa, và chết bất ngờ. Ngộ độc DON trên heo ở thực tế chăn nuôi thường sảy ra ở dạng mãn tính. Trong hầu hết các trường hợp, heo giảm ăn rõ rệt, dẫn tới giảm tăng trọng kể cả ngay sau khi bị nhiễm độc tố lần đầu. Ảnh hưởng của DON tới khả năng thu nhận thức ăn của heo phụ thuộc vào lượng độc tố. Các thử nghiêm cho thấy trong khẩu phần ăn nếu DON có mức nhiễm khoảng 1.5 ppm, nếu cứ nhiễm tăng thêm 1 ppm sẽ làm cho heo giảm khoảng 4% lượng thức ăn thu nhận.



3.3. Zearalenone



Zearalenone (ZEA) là độc tố được tạo ra bởi nấm Fusarium graminearum trước khi thu hoạch. ZEA có cấu trúc và cơ chế tác động lên cơ thể heo tương tự như tác động của hormone sinh dục Oestrogen (4). Chính vì lý do này mà bộ máy đích của heo chịu ảnh hưởng của ZEA này là đường sinh dục. Với các heo trong giai đoạn hậu bị, một trong những biểu hiện điển hình của nhiễm ZEA là sưng đỏ âm đạo (2). Trực tràng và âm đạo bị lòi ra cũng là một biểu hiện nữa thường thấy của nhiễm ZEA. Với heo nái sinh sản, ZEA gây các biến đổi về biểu hiện động dục như kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa. Trên nái làm giống, có hiện tượng chửa giả hoặc làm sảy thai sớm ở heo đã phối. Ở nái nuôi con, ZEA có thể thải qua sữa và truyền cho con từ đó gây ra hiện tượng sưng đỏ âm đạo của heo con. Trên đực giống, ZEA làm giảm hàm lượng testosterone, giảm sản xuất tinh trùng, giảm tính hăng, đặc biệt là đực non. Tuy ZEA làm thay đổi hoạt động sinh dục bình thường của heo nhưng các hoạt động này sau trong một thời gian có thể vẫn được khôi phục trở lại nếu ngừng cho heo ăn thức có nhiễm ZEA hoặc loại bỏ ZEA khỏi khẩu phần.



3.4. Fumonisin



Fumonisins (FUMs) là nhóm các độc tố được tạo ra bởi loài nấm Fusarium trước khi thu hoạch. FUM-B1 là loại độc tố phổ biến nhất trong nhóm này và nó được tạo ra bởi Fusarium verticillioides. FUMs làm ảnh hưởng tới các chức năng sinh của tế bào, tín hiệu liên thông của các mô trong cơ thể, chủ yếu là phổi, tim, gan (5) và ức chế miễn dịch. Nhiễm độc cấp tính FUMs ở heo thường dẫn tới hiện tượng suy tin, phù phổi và hậu quả là tích nước ở trong phổi (5). Heo do chịu các biến đổi trên thường có biểu hiện rất khó khăn về hô hấp như: há miệng để thở, tím tái và có thể chết. Nhiễm độc mãn tính FUMs do ăn phải thức ăn có chứa hàm lượng độc tố này thấp trong thời gian dài và heo thường có biểu hiện giảm ăn, giảm tăng trọng và dễ bị ghép với các bệnh khác (5). FUMs cũng gây độc cho gan giống như AFA ở trên và mức độ gây độc thì phụ thuộc vào thời gian và liều lượng nó có mặt (5).



3.5. Ochratoxin



Đây là loại độc tố được tạo ra do một số loại nấm bao gồm Aspergillus, Ochraceus, Penicillium verrucosum và Penicillium viridicatum trong quá trình bảo quản. Ochratoxin A (OTA) là độc tố gây độc cho thận và gan (2). Trong hầu hết các trường hợp heo trúng độc OTA đều thấy giảm tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp mặc dù lượng thức ăn tiêu thụ không giảm (6). Trong một số trường hợp thì hiện tượng trúng độc OTA chỉ được phát hiện khi mổ khám heo. Biểu hiện điển hình của trúng độc OTA ở trên heo phát hiện giết thịt là thận sưng to, cứng và nhợt nhạt. Nhiễm độc tố OTA trên heo tiềm tàng nguy cơ rất lớn đối với sức khỏe của con người vì nó có khả năng gây ung thư (6) mà thịt heo và các sản phẩm từ heo có thể chứa độc tố này và độc tố này.



4. Phân tích độc tố nấm mốc



Đối với việc phát hiện độc tố nấm mốc thì việc lấy mẫu các hạt và thức ăn là cực kỳ quan trọng. Một đặc tính rất cần lưu ý đó là độc tố nấm mốc thường không phân bố đều trong các loại hạt hay trong các loại thức ăn. Thay vào đó, nó có thể được tìm thấy với nồng độ cao ở những điểm chủ yếu nào đó nhưng cùng thời gian đó lại không tìm thấy ở những vị trí khác. Chính vì lý do này, một mẫu lấy đề kiểm tra độc tố nấm mốc lý tưởng là mẫu mà đại diện tốt nhất cho các hạt hoặc thức ăn trong lô (kho) đó. Quan trọng hơn nữa là, việc không nhìn thấy bằng mắt thường sự xuất hiện của nấm mốc trên các hạt (mẫu) nó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc không có độc tố nấm mốc trong mẫu hạt và thức ăn đó. Tiêu chí không có sự xuất hiện của nấm không được coi là tiêu chí đảm bảo không có độc tố nấm mốc trong mẫu (7).



Đối với số mấu có số lượng lớn hạt hoặc thức ăn, trong khu vực dự trữ, bảo quản (lấy mẫu tĩnh) các mẫu nên được thu thập từ ít nhất 10 vị trí đại diện, đều nhau. Đối với việc lấy mẫu khi đang được vận chuyển trong dây chuyền như đang sản xuất hoặc đang lưu kho(mẫu động), mẫu hạt hoặc thức ăn phải được lấy ở 10 thời điểm cách đều nhau. Đối với việc lấy mẫu các bao chứa hạt hoặc thức ăn, với mỗi lô nên lấy 10 bao ở các vị trí đều nhau trong toàn bộ lô. Đối với việc lấy mẫu từ máng ăn trong chuồng nuôi (trang trại), ít nhất 6 máng ăn được lựa chọn và lấy mẫu bằng gầu múc dò hoặc 9 máng ăn được chọn và lấy bằng tay. Ở cả hai phương án lấy mẫu, khối lượng mẫu lấy ít nhất khoảng 1 kg (8) và mẫu lấy phải chứa trong túi composite. Mẫu nên được chứa trong túi giấy khi gửi tới phòng thí nghiệm để tránh hiện tượng tăng sinh của nấm mốc, tạo thêm độc tố khi ở trong túi nhựa (8).

Nguy cơ thiếu thịt, trứng gia cầm vào cuối năm30/08/2021Giá giống gia cầm bán dưới giá thành nhưng vẫn không có người mu...
30/08/2021

Nguy cơ thiếu thịt, trứng gia cầm vào cuối năm
30/08/2021
Giá giống gia cầm bán dưới giá thành nhưng vẫn không có người mua vì người chăn nuôi e ngại tái đàn. Nguy cơ thiếu trứng và thịt gia cầm vào các tháng cuối năm. Ngày 30-8, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến, Tổ trưởng Tổ công tác 3430 đã có báo cáo gửi Bộ trưởng Lê Minh Hoan về tình hình sản xuất, lưu thông, tiêu thụ nông sản của các tỉnh phía Bắc.



Theo báo cáo của Tổ công tác 3430, hiện nay rau quả, thủy sản, chăn nuôi, trong đó có sản phẩm gia cầm đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ.



Giá thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y ngày một tăng cao, nhưng mức độ tiêu thụ sản phẩm gia cầm (ngoại trừ mặt hàng trứng) gặp rất nhiều khó khăn. Chi phí vận chuyển hàng vật tư, sản phẩm chăn nuôi tăng cao.



Mức độ tiêu thụ giống cũng giảm 30-35% cùng với giá bán chạm đáy, dưới giá thành, với khoảng 4.000-6.000 đồng/con gà giống 1 ngày tuổi.Vì những lý do trên nên trang trại và hộ chăn nuôi dè dặt tái đàn. “Điều này dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nguồn cung trong nước về thịt, trứng gia cầm vào các tháng cuối năm” – báo cáo của Tổ công tác 3430 cho biết.



Theo báo cáo, phần lớn các DN sản xuất gia cầm giống và sản xuất trứng đều gặp khó khăn do thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Việc tiếp cận các khoản vay mới từ các tổ chức tín dụng khó khăn. Lượng vốn ước tính hiện nay của các DN chăn nuôi gia cầm cần khoảng 800-1.000 tỷ đồng để đáo nợ và duy trì sản xuất.



Để tháo gỡ khó khăn cho DN nông nghiệp nói chung, DN chăn nuôi gia cầm nói riêng, Tổ công tác 3430 kiến nghị Bộ NN&PTNT phối hợp với Bộ Tài chính xem xét giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Cụ thể giảm thuế suất nhập khẩu ngô hạt từ 5% xuống 3%, lúa mỳ từ 3% xuống 0% nhằm góp phần giảm giá thành thức ăn chăn nuôi trong nước.



Kiến nghị Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước có biện pháp giảm lãi suất ngân hàng cho các cơ sở sản xuất để giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, hạn chế nguy cơ thiếu thực phẩm vào những tháng cuối năm.



Xem xét xây dựng gói tín dụng đặc biệt cho ngành nông nghiệp, có chính sách tín dụng hỗ trợ cho người sản xuất chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19.



Tổ công tác 3430 cũng kiến nghị Bộ Công Thương chỉ đạo các tập đoàn phân phối trong nước tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh tiêu thụ trong nước.



Đàm phán song phương với các nước đang xuất siêu nguồn thức ăn chăn nuôi sang Việt Nam có chính sách ưu đãi về thương mại trong trao đổi mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi với Việt Nam, trước hết là ngô, lúa mì, đậu tương, khô đậu tương… từ Mỹ, Argentina, Brazin, Ấn Độ, Úc, Ucraina, Nga.

Đắk Lắk: Dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát29/08/2021Sau một thời gian được khống chế, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện...
29/08/2021

Đắk Lắk: Dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát
29/08/2021
Sau một thời gian được khống chế, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện trở lại ở huyện Cư M’gar (tỉnh Đắk Lắk).



Chỉ gần chục ngày trước, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Đương ở thôn Hiệp Hòa (xã Quảng Hiệp, huyện Cư M’gar) luôn bận rộn chăm sóc đàn lợn 16 con của gia đình. Tuy nhiên chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ đàn lợn đột nhiên bị mắc bệnh và chết hàng loạt, gồm 03 con heo mẹ và 13 heo thịt.Sau khi được ngành chức năng xác định lợn chết do do bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP), đàn lợn buộc phải tiêu hủy (tổng trọng lượng 1.474 kg), tiến hành phun hóa chất tiêu độc, khử trùng và tiến hành rắc vôi bột khu vực chăn nuôi theo quy định của các cơ quan chuyên môn.



Gia đình ông Đương cũng là hộ chăn nuôi đầu tiên trên địa bàn xã xuất hiện DTLCP. Đưa chúng tôi đi thăm khu vực chăn nuôi lợn của gia đình, ông Đương buồn bã kể: Đã nuôi lợn năm thứ 6 rồi, năm nay mới bị bệnh này, đến giờ ông cũng không biết nguồn bệnh ở đâu, vì nhà ở xa khu dân cư, gần như không có tiếp xúc với ai. Ngày đầu chỉ 01 con bị bệnh nhưng sang đến ngày thứ 02 thì đồng loạt nằm rạp hết và bị chết rất nhanh, không kịp điều trị…



Ông Nguyễn Quang Đức, Trưởng trạm Thú y và Chăn nuôi huyện Cư M’gar cho biết: Khi phát hiện ổ dịch, Trạm đã báo cáo các cấp có thẩm quyền, đồng thời phối hợp với địa phương triển khai những biện pháp phòng, chống dịch. Do chưa xác định được nguồn lây, trước mắt chúng, Trạm tập trung tuyên truyền; khoanh vùng ổ dịch; hướng dẫn, khuyến cáo người chăn nuôi thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi, ngăn ngừa ổ bệnh lây lan…Theo thông tin từ Trạm Thú y và Chăn nuôi huyện Cư M’gar, ổ DTLCP đầu tiên xuất hiện trên địa bàn huyện vào ngày 27/01/2021. Đến nay đã có 05 hộ chăn nuôi ở 05 thôn của 04 xã gồm Ea Kpam, Cư Suê, Ea Kiết và xã Quảng Hiệp có lợn bị mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy 175 con lợn, với tổng trọng lượng 7.167 kg. Trong đó, xã Ea Kpam có số lợn bị mắc bệnh và tiêu hủy nhiều nhất, với 133 con, xã Cư Suê, Quảng Hiệp (16 con) và Ea Kiết (10 con), chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, với quy mô và số lượng lợn nuôi không lớn.



Nguyên nhân khiến DTLCP tái phát là do một số hộ chăn nuôi đang đẩy mạnh tái đàn, lợn giống được mua không rõ nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; một số hộ còn chủ quan trong công tác phòng, chống dịch…



Trước tình hình DTLCP tái bùng phát, ngành thú y huyện đã và đang phối hợp với chính quyền các địa phương khẩn trương thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo khống chế dịch nhanh và xử lý dứt điểm, không để dịch lây lan kéo dài. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển lợn nhằm ngăn chặn nguy cơ dịch bệnh lây lan; vận động người dân thận trọng khi tái đàn, nhất là lựa chọn con giống phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng nhằm đảm bảo tái đàn an toàn…“Hiện, giá thịt lợn xuống thấp, người dân ở một số nơi cũng đang có hiện tượng lơ là trong công tác nuôi dưỡng và cách ly, chính vì vậy khi lợn mắc bệnh không được chú tâm. Đặc biệt, sau khi có lợn bị mắc bệnh, có hộ đã gắng gượng chữa trị, chỉ đến khi lợn chết mới khai báo, điều này vô hình trung giúp mầm bệnh phát tán rộng rãi. Bên cạnh đó, việc vận chuyển lợn từ địa bàn huyện này sang địa bàn khác chưa được siết chặt, việc rơi vãi chất thải có chứa mầm bệnh trên đường, nên tiềm ẩn nguy cơ lây lan là rất cao…”, ông Nguyễn Quang Đức, Trưởng trạm Thú y và Chăn nuôi huyện Cư M’gar cho biết.

Sản xuất trứng gà theo phương thức chăn nuôi không sử dụng chuồng lồng (P1)28/08/2021[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Sản ...
28/08/2021

Sản xuất trứng gà theo phương thức chăn nuôi không sử dụng chuồng lồng (P1)
28/08/2021
[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Sản xuất trứng gà theo phương thức chăn nuôi không sử dụng chuồng lồng (sau đây gọi tắt là cage-free) có thể sử dụng chuồng nuôi 1 tầng hoặc nhiều tầng (aviary). Các phương pháp này có thể nuôi hoàn toàn trong nhà hoặc chuồng có mái hiên hai bên hông chuồng hoặc bán chăn thả. Một hệ thống cagefree hoàn chỉnh yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất chuồng nuôi thích hợp, thiết kế dãy chuồng phù hợp và qui trình quản lý chăn nuôi hiệu quả, trong đó cân nhắc đến yếu tố hành vi tự nhiên của gà cũng như đảm bảo các biện pháp về an toàn sinh học.



Nuôi gà đẻ trứng không nhốt trong lồng đã phổ biến nhiều năm qua tại nhiều khu vực trên thế giới, nhất là khu vực Tây Âu. Để nuôi gà đẻ theo phương thức cage-free thành công thì gà con, hậu bị cũng phải được nuôi theo phương thức cage-free.Trong hàng thập kỉ gần đây đã có những nghiên cứu về hành vi và sức khoẻ của gà đẻ cũng như những nghiên cứu liên quan đến phúc lợi động vật. Phúc lợi động vật được hiểu là sự thích nghi thành công với môi trường, dẫn đến việc động vật có những trải nghiệm tích cực với môi trường chúng đang sống. Những khuyến nghị liên quan đến việc quản lý và thiết kế chuồng nuôi sau đây đều dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi gà đẻ trứng. Thiết kế hệ thống cage-free nuôi gà trong giai đoạn hậu bị và sản xuất có thể hoàn toàn xây mới hoặc tích hợp chuồng nuôi theo kiểu lồng nhốt hoặc nuôi gà thịt hiện có. Thiết kế phải phù hợp với khí hậu tại Việt Nam. Trong khuôn khổ của dự án này, chúng tôi đưa ra một số thiết kế cho hệ thống cage-free tại Việt Nam (Phụ lục 1). Mục tiêu của tài liệu này nhằm đưa ra hướng dẫn chăn nuôi gà đẻ trứng theo phương thức cage-free.



Chúng tôi xin lưu ý rằng chủ doanh nghiệp, trang trại hoặc các cá nhân tham gia vào hoạt động chăn nuôi gà cần có những kiến thức cơ bản liên quan đến chăn nuôi gà trong giai đoạn hậu bị và sản xuất trong môi trường cage-free trước khi xây dựng chuồng trại theo phương thức cage-free hoặc chịu trách nhiệm vận hành những mô hình chăn nuôi này. Hiện tại, một số viện nghiên cứu hoặc trường đại học hoặc các công ty có thể cung cấp tư vấn, đào tạo hoặc hỗ trợ trước khi lắp đặt chuồng cage-free mới



hoặc chuyển đổi chuồng nuôi gà hậu bị hoặc gà đẻ theo phương thức nuôi nhốt hiện có sang mô hình cage-free. Giai đoạn tập huấn hướng dẫn và hỗ trợ trong chăn nuôi và sản xuất gà hậu bị theo hướng cage-free là rất quan trọng. Một số chuyên gia trong nước và quốc tế có thể tham gia hỗ trợ giai đoạn này.



Tài liệu này cung cấp những thông tin và công cụ cơ bản giúp người sản xuất có thể áp dụng thành công mô hình cage-free trong chăn nuôi gà đẻ tại Việt Nam



1. Chăn Nuôi gà con và gà hậu bị theo phương pháp cagefree



Một điều kiện cần thiết trong sản xuất trứng theo phương pháp cage-free là gà 1 ngày tuổi cũng phải được nuôi trong môi trường này. Việc nuôi gà con và gà hậu bị trong chuồng cage-free sẽ giúp chúng thích nghi với phương thức chăn nuôi này trong suốt giai đoạn sản xuất. Điều này sẽ giúp tăng sức khoẻ và phúc lợi của gà đồng thời nâng cao chất lượng sản xuất. Gà con từ khi mới nở một vài ngày đã phát triển những hành vi đặc trưng của loài gà như đào bới kiếm ăn hay tìm nước uống. Chúng thường có xu hướng đi lang thang và khám phá môi trường xung quanh. Gà con sẽ tập ăn thức ăn từ giấy lót thức ăn cho chúng hoặc từ dĩa đựng thức ăn. Gà hậu bị cũng sẽ học cách đào bới sàn chuồng và tắm bụi. Ở giai đoạn này, gà cũng phát triển những hành vi chơi đùa hay bắt đầu tập ngủ khi đêm xuống.



Trong phần này, chúng tôi sẽ miêu tả một số tiêu chuẩn kỹ thuật thực hành nuôi gà con và gà hậu bị trong các hệ thống cage-free.



1.1 Người chăn nuôi



Cơ sở chăn nuôi cần được tập huấn đầy đủ và có khả năng chăm sóc và vận chuyển gà con và gà hậu bị. Chủ trang trại/chủ cơ sở chăn nuôi cần đảm bảo rằng công nhân có trách nhiệm chăm sóc đàn gà gà và gà hậu bị hàng ngày cần có kĩ năng cần thiết về qui trình quản lý chăn nuôi chuẩn và hiểu được phúc lợi động vật, bao gồm những vấn đề về sức khoẻ và hành vi của đàn gà mà công nhân chịu trách nhiệm.



Cuối cùng, tập huấn cũng cần giúp chăn nuôi hiểu được làm thế nào để tuân thủ những qui định về luật pháp liên quan. Cần đảm bảo rằng công nhân chăm sóc đàn gà trong giai đoạn này cũng cần nhận biết được những hành vi thông thường, những dấu hiệu của gà khoẻ mạnh cũng như những hành vi bất



thường hoặc dấu hiệu gà bệnh. Người trực tiếp chăm sóc cần có khả năng đưa ra những can thiệp hiệu quả và kịp thời khi cần thiết. Cơ sơ chăn nuôi cần có sổ theo dõi tập huấn người lao động trong cơ sở của mình.



Khi vận chuyển và lùa, bắt, di chuyển gà cũng cần giảm thiểu căng thẳng, sợ hãi và chấn thương cho gà. Khi bắt gà cần dùng hai tay nhẹ nhàng nâng lên. Tuyệt đối không bắt từng con bằng cách cầm cổ, đầu, cánh, đùi, hoặc xách chân gà.



1.2 Kiểm tra



Đàn gà cần được kiểm tra ít nhất hai lần một ngày ở các thời điểm khác nhau bởi chủ cơ sở chăn nuôi hoặc công nhân có chuyên môn và trách nhiệm. Lưu ý tập cho gà con, gà hậu bị quen với sự có mặt của con người, những qui trình kiểm tra hàng ngày, tiếng ồn nhằm giảm thiểu sự sợ hãi của chúng. Việc thường xuyên kiểm tra đàn gà với lịch trình kiểm tra đa dạng với nhiều người kiểm tra khác nhau, nhiều loại quần áo khác nhau sẽ tập cho đàn gà làm quen với môi trường sống. Đồng thời cần tăng số lần kiểm tra khi khi vừa mới xuống gà. Một qui trình như vậy sẽ giúp gà bớt căng thẳng. Cần tiến hành kiểm tra cả đàn cũng như kiểm tra từng con.



Qui trình kiểm tra này cần bao gồm ít nhất đánh giá tình trạng bộ lông, tình trạng da, tình trạng dinh dưỡng, nhu cầu chăm sóc thú y, dấu hiệu căng thẳng sợ hãi



(Bảng 1). Phụ lục 3 đưa ra ví dụ về bảng kiểm tra cơ bản. Việc kiểm tra cần chỉ ra được những con gà bị ốm, bị thương hoặc có biểu hiện không bình thường. Đồng thời, việc kiểm tra cũng bao gồm kiểm tra chức năng vận hành của các hệ thống tự động (ví dụ hệ thống ăn, máng uống, và dụng cụ đo các thông số vi khí hậu chuồng nuôi). Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện bất cứ con gà chết nào thì cần loại bỏ ngay. Công nhân kiểm tra cần ghi chép lại và theo dõi tỷ lệ gà chết, và cần làm rõ nguyên nhân.



Thu thập và theo dõi những chỉ số phúc lợi động vật là phục vụ lợi ích của cơ sở chăn nuôi cũng như đàn gia cầm. Hoạt động này cung cấp thông tin tình hình đảm bảo phúc lợi của đàn gà và đồng thời giúp cơ sở chăn nuôi phát hiện ra những bất thường hay tổn thất và có biện pháp khắc phục kịp thời.

Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng: Xây dựng chỉ số chọn lọc trong công tác giống heo27/08/20211. Đ...
27/08/2021

Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng: Xây dựng chỉ số chọn lọc trong công tác giống heo
27/08/2021
1. ĐẶT VẤN ĐỀ



Chỉ số chọn lọc được xây dựng dựa trên giá trị giống (được tính theo phương pháp BLUP) và giá trị kinh tế của một số tính trạng được áp dụng phổ biến trên thế giới trong nhiều thập niên qua (Henderson, 1973; Brascamp và ctv, 1985; Hudson v à Kennedy; 1985; Smith và ctv, 1986; Groen, 1989; AGBU, 1993; James, 1993; Cameron, 1997; Wray, 1998; Houska, 2004). Ở nước ta, chỉ số chọn lọc nêu trên chưa được áp dụng nhiều trong thực tế sản xuất. Đứng trước những yêu cầu của thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng chỉ số chọn lọc trong tác giống heo tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng”.



Mục đích



Xây dựng chỉ số chọn lọc và áp dụng chỉ số này trong công tác chọn giống nhằm cải thiện các tính trạng sản xuất gồm sinh trưởng và sinh sản của một số giống heo nuôi tại Trung tâm.



2, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1 Nội dung nghiên cứu



2.1.1 Xây dựng chỉ số chọn lọc



– Ước lượng giá trị giống của một số tính trạng chọn lọc về khả năng sinh sản và sinh trưởng của các giống heo Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.



– Ước lượng giá trị kinh tế của một số tính trạng chọn lọc về khả năng sinh sản và sinh trưởng của các giống heo Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.



– Xây dựng chỉ số chọn lọc.



2.1.2 Ứng dụng chỉ số vào công tác giống ở trại



2.2 Phương pháp nghiên cứu



2.2.1 Đối tượng khảo sát



– Đàn heo nái và đực thuần bao gồm các giống Yorkshire, Landrace và Duroc được nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.



– Số liệu đưa vào tính toán để xây dựng chỉ số chọn lọc là những số liệu về sinh sản và sinh trưởng được thu thập trên đàn heo thuần và những lứa đẻ được phối giống thuần nuôi tại Trung tâm từ năm 1995 đến năm 2004. Cơ cấu và dung lượng mẫu thu thập được như sau:2.2.2 Phương pháp khảo sát



a) Xây dựng chỉ số chọn lọc



* Ước lượng giá trị giống: Giá trị giống của các thú sẽ được ước lượng dựa trên số liệu khảo sát từ 1995 – 2004



+ Điều tra số liệu



+ Ước lượng giá trị giống



Số liệu thu thập được sẽ được hiệu chỉnh theo phương pháp của NSIF (1997) cho các tính trạng: số con sơ sinh sống/ổ; trọng lượng 21 ngày/ổ và theo phương pháp SIP (Canada, 1997) cho các tính trạng tuổi đạt trọng lượng 90kg; dày mỡ lưng lúc 90kg. Giá trị giống sẽ được ước lượng bằng phương pháp dự đoán tuyến tính không chệch tốt nhất – BLUP (Best Linear Unbiased Prediction) với chương trình PEST version 4.2 (Eldert Groeneveld, 1999).



BLUP – mô hình thú (BLUP – animal model) sẽ được tính cho các tính trạng:



– Tuổi đạt trọng lượng 90 kg.

– Dày mỡ lưng lúc 90 kg.



Mô hình thú có dạng tổng quát như sau: Y = Xb + Zu + e



Và BLUP – mô hình lập lại (BLUP – repeatability model) cho các tính trạng:



– Số con sơ sinh sống / ổ

– Trọng lượng 21 ngày / ổ



Mô hình lập lại có dạng tổng quát như sau: Y = Xb + Zu + Wpe + e



Trong đó:



Y : Véctơ các quan sát

b : Véctơ ảnh hưởng cố định (trại, tháng, năm)

u : Véctơ ảnh hưởng ngẫu nhiên (giá trị giống của các thú)

e : Véctơ sai số ngẫu nhiên

X : Ma trận mẫu (design matrix) liên quan tới các ảnh hưởng cố định

Z : Ma trận mẫu liên quan tới các ảnh hưởng ngẫu nhiên

pe : Véctơ các ảnh hưởng ngoại cảnh thường trực

W : Ma trận mẫu liên quan tới ảnh hưởng ngoại cảnh thường trực



* Ước lượng giá trị kinh tế



Giá trị kinh tế được ước lượng theo phương pháp của NSIF (1997) cho các tính trạng: số con sơ sinh sống/ổ (con); trọng lượng 21 ngày/ổ (kg) và theo phương pháp của Brian Kennedy (Sullivan and Chesnais, 1994) cho các tính trạng: tuổi đạt trọng lượng 90 kg (ngày); dày mỡ lưng lúc 90 kg (mm).



* Xây dựng chỉ số chọn lọc



Chỉ số chọn lọc sẽ được xây dựng theo công thức sau:

SPI = 100 + a1 * EBVSCS + a2 * EBVTL21

TSI = 100 – a3 * EBVT90 – a4 * EBVML90

MLI = 100 + a1 * EBVSCS + a2 * EBVTL21 – a3 * EBVT90 – a4 * EBVML90



Trong đó:



SPI : Chỉ số nái sinh sản

TSI : Chỉ số dòng đực cuối cùng

MLI : Chỉ số dòng mẹ

EBVSCS và a1: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ

EBVTL21 và a2: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng TL 21 ngày tuổi /ổ

EBVT90 và a3: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng tuổi đạt TL 90kg

EBVML90 và a4: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng dày mỡ lưng lúc 90kg



b) Ứng dụng chỉ số chọn lọc trong công tác giống ở trại



– Xây dựng đàn hạt nhân



– Xây dựng chương trình ghép đôi phối giống



Tất cả các số liệu thu thập được xử lý trên chương trình MTDFREML (1994), PEST (1999) và xử lý thống kê sinh vật học trên phần mềm SAS (1998).

Address

Lô 3 Khu Công Nghiệp Gia Lâm Hanoi
Hanoi
10000

Telephone

+84334555005

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đại Lý Thức Ăn Vỗ Béo Green Free posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share