Sách về chiến tranh Việt Nam

Directions Contact the business

Sách về chiến tranh Việt Nam Góc sách dành cho các bạn trẻ yêu thích tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc chiến

Rời khỏi Sài Gòn – Hành trình một nhân viên ngân hàng đưa 113 thường dân rời đi vào tháng 4/1975 (Getting Out of Saigon:...
08/08/2026

Rời khỏi Sài Gòn – Hành trình một nhân viên ngân hàng đưa 113 thường dân rời đi vào tháng 4/1975 (Getting Out of Saigon: How a 27-Year-Old Banker Saved 113 Vietnamese Civilians)
Rời khỏi Sài Gòn,tác phẩm vừa được Phương Nam Book liên kết xuất bản, là một câu chuyện về lòng dũng cảm phi thường nảy sinh từ một con người bình thường, một lát cắt sống động về những ngày cuối cùng của cuộc chiến được kể lại từ góc nhìn của một người trong cuộc. Ralph White không được lệnh phải làm người hùng, nhưng đứng trước lằn ranh sinh tử của những người đồng sự, ông đã chọn làm điều đúng đắn, viết nên một trong những câu chuyện nhân văn và kịch tính nhất về những ngày tháng Tư năm 1975.
Người cứu tinh bất đắc dĩ giữa lòng đô thị rối ren
Khi Ralph White, một nhân viên ngân hàng trẻ tuổi của Chase Manhattan, nhận nhiệm vụ tạm thời chuyển từ chi nhánh Bangkok đến Sài Gòn vào giữa tháng 4 năm 1975, ông chỉ nghĩ đó là một cuộc phiêu lưu ngắn ngày. Nhiệm vụ chính thức của ông có hai phần mâu thuẫn: giữ cho chi nhánh Sài Gòn hoạt động càng lâu càng tốt để thể hiện sự ổn định, đồng thời chuẩn bị sơ tán cho vài nhân viên cấp cao người Việt khi tình hình trở nên không thể cứu vãn. Với tính cách của một thanh niên 27 tuổi đam mê phiêu lưu, thích lái máy bay và mô tô, White không phải là hình mẫu của một chiến lược gia dày dạn kinh nghiệm. Ông chỉ là một quân cờ được cấp trên cử đi, một người có thể hy sinh nếu mọi chuyện không thành.
Thế nhưng, Sài Gòn mà White đối mặt không giống như những gì ông được nghe kể. Ẩn sau vẻ ngoài dường như vẫn bình lặng của thành phố, không khí căng thẳng bao trùm khắp nơi. Đồng thời, những khó khăn từ phía đại sứ quán Mỹ khiến cho mọi kế hoạch sơ tán chính thức gần như bị đóng băng. White nhanh chóng nhận ra sự thật phũ phàng: những lời hứa hẹn từ Tòa Đại sứ chỉ là lời nói suông. Ông và các nhân viên của mình đang đơn độc.
Bước ngoặt quyết định đã đến khi một nữ nhân viên trẻ tuổi hỏi ông trong lúc tuyệt vọng rằng liệu họ có bị bỏ lại để rồi phải đối diện với cái chết hay không. Khoảnh khắc đó đã biến một nhiệm vụ công việc thành một sứ mệnh lương tâm. Không chút do dự, Ralph White hứa rằng ông sẽ không bỏ mọi người ở lại. Lời hứa đó đã ràng buộc số phận của ông với 113 con người, bao gồm toàn bộ nhân viên ngân hàng và gia đình họ. Từ một nhân viên ngân hàng vô danh, ông trở thành người bảo trợ bất đắc dĩ, gánh trên vai sinh mạng của cả một “gia đình” mà ông vừa mới “nhận nuôi”. Cuộc phiêu lưu đã kết thúc, nhường chỗ cho một cuộc chạy đua sinh tử.
Cuộc chạy đua với thời gian và bộ máy hành chính
Khi đã quyết định sẽ đưa tất cả mọi người đi, Ralph White lao vào một cuộc chiến thực sự, không phải với súng đạn, mà với sự thờ ơ của bộ máy hành chính và thời gian đang cạn dần. Trở ngại lớn nhất của ông chính là Tòa Đại sứ Mỹ. Đại sứ Graham Martin đã từ chối tiến hành một cuộc sơ tán quy mô lớn, cho rằng hành động đó sẽ gây hoảng loạn và làm suy sụp tinh thần chiến đấu. Chính sách chính thức chỉ cho phép sơ tán công dân Mỹ và những người Việt có mối quan hệ trực tiếp với người Mỹ. Các nhân viên của Chase Manhattan, vì là người Việt không có mối quan hệ trực tiếp, nên hoàn toàn không đủ điều kiện.
May mắn thay, giữa bộ máy hành chính cứng nhắc ấy, vẫn có những người tốt. White tình cờ khám phá ra một mạng lưới sơ tán bí mật, được vận hành bởi một nhóm nhỏ các nhân viên ngoại giao và quân sự Mỹ quả cảm. Họ hành động âm thầm sau lưng đại sứ, liều lĩnh cả sự nghiệp của mình để làm điều đúng đắn. Những cái tên như Shep Lowman và Kenneth Moorefield đã trở thành tia hy vọng le lói. Bên cạnh đó, nhờ vào sự nhanh nhạy, White đã tự xây dựng một mạng lưới thông tin của riêng mình. Ông kết bạn với Nga, một cô gái điếm 17 tuổi thông minh; nhờ đó, ông nhận được thông tin tình báo quý giá từ người anh trai của cô.
Đỉnh điểm của sự căng thẳng diễn ra tại Trung tâm Kiểm soát Sơ tán (ECC) ở sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi xoay xở để có được những chuyến xe buýt quân sự đưa người của mình vượt qua các trạm kiểm soát, White đối mặt với rào cản cuối cùng: giấy tờ. Không có giấy phép xuất cảnh, không có thị thực, 113 người của ông không thể lên máy bay. Trong khoảnh khắc quyết định, khi đối mặt với một vị phó lãnh sự, White đã đưa ra một câu trả lời táo bạo và đầy tính nhân văn. Khi được hỏi về mối quan hệ với những người này, ông khẳng định: “Họ là gia đình của tôi.” Ông cam kết chịu trách nhiệm tài chính và bảo trợ cho tất cả 113 người. Bằng sự quyết đoán và lòng chân thành không thể lay chuyển, ông đã thuyết phục được vị phó lãnh sự, biến một quy trình hành chính lạnh lùng thành một hành động cứu người. Đó là khoảnh khắc mà 113 nhân viên và người thân của họ chính thức trở thành gia đình của Ralph White.
Di sản của lòng nhân ái và sự quả cảm
Rời khỏi Sài Gòn vượt xa khuôn khổ của một cuốn hồi ký lịch sử thông thường. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ nằm ở câu chuyện phi thường mà còn ở giọng văn độc đáo của Ralph White – một giọng văn ngắn gọn, dứt khoát, pha lẫn sự châm biếm và dí dỏm. White không tự tô vẽ mình thành một người hùng hoàn hảo. Ông thẳng thắn kể về những lúc sợ hãi, những quyết định bốc đồng, và cả sự may mắn đến khó tin đã giúp ông thành công. Chính sự tự giễu và khiêm tốn này đã khiến ông trở thành một người kể chuyện đáng tin cậy, gần gũi, giúp độc giả có thể đồng cảm sâu sắc với hành trình của ông.
Cuốn sách còn là một minh chứng mạnh mẽ về di sản của lòng nhân ái và sự kết nối giữa người với người. Ralph White luôn khiêm tốn khi nói về vai trò của mình, ông nhấn mạnh rằng những người hùng thực sự là các nhân viên ngoại giao Mỹ đã liều mình giúp đỡ. Tuy nhiên, tình cảm mà ông dành cho 113 người mà ông đã cứu là không thể phủ nhận: “Tôi không có con cái, và 113 người được tôi bảo trợ vào ngày 24 và 25/4/1975 là gia đình duy nhất mà tôi từng có.” Mối liên kết đó không hề chấm dứt khi máy bay cất cánh. Nhiều người trong số họ đã tiếp tục làm việc cho Chase tại Mỹ và có một cuộc sống mới. Cuộc đời của Nga – cô gái được ông gửi đến sống cùng mẹ mình, tốt nghiệp trung học và đại học rồi trở thành giáo viên – chính là cái kết đẹp cho một câu chuyện đầy bão tố.
Rời khỏi Sài Gòn không chỉ mang đến góc nhìn cận cảnh về một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà còn là câu chuyện truyền cảm hứng về sức mạnh của một cá nhân. Tác phẩm của Ralph White là một lời nhắc nhở rằng lịch sử không chỉ được tạo dựng bởi những trận chiến hay những quyết định chính trị vĩ mô, mà còn được dệt nên từ vô số hành động quả cảm và đầy tình nhân ái của những con người bình thường.
Trích đoạn
“Ở Việt Nam, họ thường đứng trước tên. Hai người phụ nữ họ Nguyễn không có quan hệ họ hàng gì với nhau. Trong lần đến Việt Nam với vai trò là người phụ trách của American Express, tôi biết được rằng khoảng 40% người Việt sử dụng cái họ đó, dòng dõi của triều đại phong kiến cuối cùng. Nó được phát âm với một âm tiết duy nhất. Âm vị ng hiện diện trong tiếng Anh ở cuối các từ như running. Bí quyết để phát âm họ Nguyễn mở đầu bằng âm vị ng là gốc lưỡi chạm nhẹ lên vòm miệng. Hay đọc từ running câm và nâng đầu lưỡi lên trước khi phát âm. Cách đọc cũng tương tự với tên Nga, vốn là một trong những tên nữ phổ biến ở Việt Nam. Người Việt đánh giá cao việc một người Mỹ nỗ lực phát âm đúng tên họ. Họ đã quen với chuyện bị đọc sai tên.”
***
“Đó là một cái kén văn minh giữa bạo lực lan tràn và nỗi đau cộng hưởng từ chiến tranh; một khu rừng văn minh nho nhỏ với những chiếc bàn nằm rải rác giữa những cây chuối, hoa bụi và một vài cây đa non. Đồ ăn tại đó vừa bình dân vừa có phần cao cấp. Trải nghiệm của tôi chủ yếu là bữa sáng, với bánh sừng bò, cà phê Pháp và không gian lịch sử. Quán cà phê sân vườn tại Continental là một góc nhìn thoáng qua về thiên đường đầy cám dỗ mà ký ức không nỡ buông bỏ.”
***
“Tôi không có con cái, và 113 người được tôi bảo trợ vào ngày 24 và 25/4/1975 là gia đình duy nhất mà tôi từng có. Tôi không ngừng suy đoán cuộc sống của họ đã thay đổi như thế nào kể từ khi gặp tôi. Và cuộc sống của tôi đã biến chuyển ra sao kể từ khi gặp họ.”
Nhận xét của báo chí
“Những gì White khiêm tốn gọi là ‘15 phút tỏa sáng’ của mình chính là minh chứng cho lòng nhân đạo sâu sắc của ông… Đúng như những gì ông đã viết ‘Không chỉ là những người tị nạn, nhân viên, cộng sự, họ chính là gia đình tôi.’”
– Publisher Weekly
“Một câu chuyện độc đáo, kịch tính về Chiến tranh Việt Nam… White đã thuật lại câu chuyện đầy cảm hứng của mình bằng sự dí dỏm, hào hoa, khiêm nhường và một cảm nhận đầy lôi cuốn về thời gian và địa điểm.”
– Kirkus Reviews
“Một câu chuyện nghẹt thở, quá đỗi phi thường đến mức khó tin.”
– OprahDaily.com
Về tác giả
Ralph White
, một chuyên gia tài chính kiêm tác giả người Mỹ, người được giao nhiệm vụ đóng cửa Chi nhánh Chase tại Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của mùa xuân năm 1975. Năm 1981, ông trở lại trụ sở chính của Chase tại New York để đảm nhận vai trò tại Phòng Kế hoạch Chiến lược Quốc tế và giữ chức Phó Chủ tịch tại đây. Sau khi hoàn thành chương trình MBA tại Đại học Columbia, ông tiếp tục phát triển sự nghiệp trong ngành tài chính, đồng thời thành lập Columbia Fiction Foundry, một cộng đồng viết văn dành cho cựu sinh viên Columbia. Hiện ông đang sinh sống tại New York và Litchfield, Connecticut.
(nhasachphuongnam.com)

Sự thật trong phim chỉ đúng 20%“Tôi sẽ còn trở lại VN để viết những cuốn sách hay hơn những cuốn tôi đã viết”. Phóng viê...
04/07/2026

Sự thật trong phim chỉ đúng 20%
“Tôi sẽ còn trở lại VN để viết những cuốn sách hay hơn những cuốn tôi đã viết”. Phóng viên chiến tranh Joseph L.Galloway đã nhắn nhủ như vậy khi trở lại thăm VN vào những ngày cuối tháng 4-2005. Đối với ông, cuộc chiến tranh của Mỹ ở VN gần như đã hủy hoại đạo lý của quân Mỹ nhưng phải mất đến 10 năm ông mới hiểu được thực tế hiển nhiên này.
Cái tên Joseph L. Galloway đã nổi tiếng trong làng báo thế giới từ hơn 20 năm nay bởi những bài viết chân thực, xúc động về các cuộc chiến tranh. Ông xông xáo ở tất cả các điểm nóng, VN, vùng Vịnh, Afghanistan v.v... Tháng 11-1965, chàng phóng viên trẻ có mặt tại chiến trường VN, trực tiếp quay phim về trận chiến quy mô lớn đầu tiên giữa sư đoàn kỵ binh bay số một Mỹ với bộ đội chủ lực VN tại thung lũng Ia Drang, Pleiku. Chứng kiến sự thất bại của quân đội Mỹ cùng những cái chết thương tâm của lính Mỹ, ông đã cùng trung tướng hồi hưu Hal J. Moore, chỉ huy lực lượng Mỹ trong cuộc đụng độ dài ngày và ác liệt trong trận Ia Drang, viết cuốn We’re soldiers once... and young (Chúng tôi từng là lính... thời trẻ trung). Cuốn sách ngay lập tức trở thành sách bán chạy, thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân Mỹ yêu chuộng hòa bình, chán ghét chiến tranh. Hiện ông là phóng viên quân sự cao cấp của tập đoàn báo chí Knight Ridder Newspapers và viết cho nhiều tờ báo khác.
Trở lại VN lần này trong đoàn cựu binh Mỹ sau 30 năm kết thúc chiến tranh và 10 năm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, Galloway đã tận mắt chứng kiến những đổi thay khiến ông ngạc nhiên.
Ông đã chia sẻ cảm nghĩ của mình với phóng viên Báo Người Lao Động. Phóng viên: Đây là lần đầu ông trở lại VN?
L. Galloway:
Không, đây là lần thứ 5. Từ những năm 1992-1993, tôi cùng với khoảng 10 cựu binh Mỹ tham gia trận Ia Drang đã trở lại VN. Chúng tôi đã gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phỏng vấn các tướng Chu Huy Mân, Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp để lấy tư liệu viết cuốn We’re soliders once... and young. Chúng tôi đã đi dọc miền Trung, trở lại nơi xảy ra cuộc chiến đẫm máu năm xưa. Cuốn sách ra đời năm 1993 và được đón nhận nồng nhiệt. Cùng năm đó, đài truyền hình Mỹ ABC cũng đã làm một bộ phim tài liệu về trận chiến Ia Drang.
Xúc động nhất là khi tôi gặp lại tướng Nguyễn Hữu An, người đã chỉ huy “quét” lính Mỹ ra khỏi thung lũng Ia Drang tháng 11-1965. Chúng tôi đã cùng bước trên mảnh đất chiến trường xưa, cùng lau nước mắt khóc thương binh lính chết trận của cả hai phía. Tướng An đã qua đời năm 1994. Năm 1995, tôi cùng tướng Hal Moore đến viếng ông tại nhà riêng ở Hà Nội và gặp vợ, con ông. Trong tủ kính đựng những vật kỷ niệm của ông, bên cạnh bộ quân phục, huân - huy chương và ảnh của ông thời trai trẻ, có một bản sao cuốn sách của tôi. Tôi thật sự vui mừng khi hòa bình và thịnh vượng cuối cùng đã đến với người dân VN. Giờ không còn chỗ cho hận thù và cay đắng nữa, ngay cả ký ức đau buồn cũng sẽ sớm bị lãng quên.
Cuốn sách của ông hoàn toàn nói về người thật, việc thật?
- Chính xác 100%, nhưng bộ phim dựa theo cốt truyện của tôi thì lại khác. (Bộ phim We’re soldiers do nam tài tử Hollywood Mel Gibson đóng vai chính). Sự thật trong đó chỉ chiếm 20%, rất nhiều cảnh giả. Bộ phim đã làm tôi thất vọng như nhiều người VN. Khi ta trao cuốn sách của mình cho điện ảnh, điều đó cũng tương tự như khi ta trao đứa con rứt ruột đẻ ra cho người khác làm con nuôi vậy.
Ông có biết gì về cuộc sống hiện nay của các cựu chiến binh Mỹ?
Các cựu chiến binh còn sống sót sau cuộc chiến đều có cuộc sống riêng, một số giàu lên, một số nghèo đi, nhưng đa số đều cảm thấy mất phương hướng, đặc biệt những người đã tham gia trận Ia Drang. Theo tôi, khoảng 20% cựu chiến binh thực sự bị “ stress” khi chiến tranh kết thúc. Chiến tranh VN đã hủy hoại đạo lý của quân đội Mỹ. Một số tổng thống (TT) Mỹ đã sai lầm do dính líu vào cuộc chiến này. TT Lyndon B.Johnson đã đưa những lính Mỹ đầu tiên sang VN khiến thanh niên Mỹ rầm rộ xuống đường biểu tình phản đối. Người kế nhiệm ông ta, Richard Nixon cũng bị lung lay vì cuộc chiến này. Vị TT thứ ba, Gerald Ford đã bị chính cuộc chiến què quặt này đánh bại. Cuộc chiến đã đem lại cho tôi những người bạn tốt nhất nhưng cũng nhanh chóng lấy mất hết của tôi. Khuôn mặt họ vẫn ám ảnh tôi không dứt.
Trong mắt ông, VN đã thay đổi thế nào?
- Mỗi lần tôi trở lại VN là mỗi lần tôi thấy “sửng sốt” về sự thay đổi của VN. Lần đầu tiên, tôi đến Hà Nội, đường phố tràn ngập xe đạp nhưng nay đã đầy xe máy, ô tô, nhà cửa mọc lên san sát, đặc biệt là các tòa nhà cao tầng. Tôi nghĩ trong một vài năm tới, Hà Nội sẽ còn phát triển nhiều hơn nữa. Tôi rất vui mừng nhận thấy người dân VN đang tận hưởng cuộc sống của mình. Người VN vẫn là dân tộc cần cù chịu khó nhất mà tôi từng biết, kiên cường tranh đấu cho tự do và độc lập.
Bích Diệp (nld.com.vn)...........
Phim “Chúng tôi từng là lính” xuyên tạc sự thật
Về sự thật chiến tranh và những hình ảnh xuyên tạc trong bộ phim “Chúng tôi từng là lính”, Joseph L. Galloway, đồng tác giả của cuốn sách cùng tên đã "rất ngạc nhiên và tức giận sau khi xem phim"...
Nhiều phóng viên nước ngoài có mặt trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Joe Galloway là một nhân vật đặc biệt. Ông là phóng viên duy nhất trong trận Ia-Đrăng (Plei Ku) nổi tiếng vào tháng 11/1965.
Ia-Đrăng được xem là cuộc đụng độ quy mô lớn đầu tiên giữa quân đội Mỹ và lực lượng chính quy của Quân giải phóng.
Tướng Mỹ 3 sao Hal. G. Moore - Chỉ huy quân Mỹ trong trận Ia-Đrăng và Galloway là đồng tác giả cuốn sách nổi tiếng “Chúng tôi từng là lính..” đã được Hollywood dựng thành bộ phim cùng tên.
Theo Galloway, giữa cuốn sách mà ông là đồng tác giả với bộ phim, dù cùng một câu chuyện nhưng có nội dung khác nhau. Để hoàn thành cuốn sách với phương châm sự thật lịch sử phải đặt lên hàng đầu, Galloway và tướng Mỹ 3 sao H. Moore đã trở lại Việt Nam vào các năm 1991, 1993 để gặp cố Trung tướng Nguyễn Hữu An - người chỉ huy trận Ia-Đrăng, cùng một số cựu binh từng trực tiếp tham dự trận này.
Những cuộc gặp gỡ nhiều năm sau chiến tranh đã giúp họ hiểu nhau hơn và có thể nói ra một phần sự thật về trận đụng độ nổi tiếng trên. Vì thế, Galloway khẳng định cuốn sách đã phản ánh đúng sự thật, nhưng khi lên phim mọi chuyện thay đổi.
Tướng Moore và Galloway được mời làm cố vấn cho bộ phim nhưng thực ra những cảnh phim họ được xem rất ít. Mỗi khi phát hiện ra những cảnh sai với sự thật, tướng Moore và Galloway đều nói với đạo diễn, nhưng mọi chuyện sau đó họ không phải là người quyết định. Tướng Moore và Galloway đã nổi giận khi xem phim và ngay sau đó đã lớn tiếng chỉ trích các nhà làm phim.
Theo ông, Hollywood đã “phim ảnh hoá” tới hơn 80% sự thật để thu được lợi nhuận cao, trong khi thông thường chỉ được phép dưới 20%. Theo Galloway, trong trận chiến kéo dài 4 ngày (14-17/11/1965) tại thung lũng Ia-Đrăng, tổng cộng có 234 lính Mỹ tử trận, khoảng 250 người bị thương và là trận chiến đẫm máu, gây thương vong rất cao cho lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Theo trí nhớ của Galloway, có 6 chiến sĩ của Quân giải phóng bị bắt, nhưng sau trốn thoát được. Theo những tài liệu mà Galloway thu thập được, nếu tính trên toàn chiến dịch Plây-me của Quân giải phóng (19/10 đến 26/11/1965), con số lính Mỹ thương vong cao hơn nhiều.
Tạm ngừng câu chuyện về trận chiến Ia-Đrăng, Galloway tâm sự rằng với 4 lần tới chiến trường Việt Nam và tổng thời gian phục vụ tại đây hơn 2 năm rưỡi, ông có cả một kho tàng những câu chuyện chiến tranh, nhưng sẽ rất buồn khi phải nhắc lại. Tướng Moore từng nói với Galloway rằng ông không bao giờ quên được trận Ia-Đrăng. Trở lại Việt Nam vào dịp 30 năm giải phóng Miền Nam, Galloway khẳng định với phóng viên báo Tiền Phong: "Tôi luôn viết sự thật về chiến tranh Việt Nam".
Và Galloway cũng vậy. Lúc đó ông 23 tuổi, đã có 4 năm kinh nghiệm trong nghề báo. Trách nhiệm của người cầm bút đã đẩy lùi sự sợ hãi. Cảnh những người lính chĩa súng vào nhau, xác chết, người bị thương rên rỉ...trong trận Ia-Đrăng và nhiều trận chiến khác trong chiến tranh Việt Nam là một phần ký ức buồn của ông.
Là thành viên trong ban cố vấn của Quỹ Tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ, Galloway nói rằng chiến tranh Việt Nam vẫn chưa chấm dứt với người dân Mỹ, đặc biệt là các cựu chiến binh. Galloway trực tiếp chứng kiến các cựu binh và con cái họ phải hứng chịu những căn bệnh nan y có nguyên nhân từ chính chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam.
(nld.com.vn)

Cuộc chiến bí mật chống Hà Nội(The Secret War Against Hanoi)Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội của Richard H. Shultz Jr. là ...
28/05/2026

Cuộc chiến bí mật chống Hà Nội
(The Secret War Against Hanoi)

Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội của Richard H. Shultz Jr. là một công trình nghiên cứu lịch sử – chính trị có sức nặng đặc biệt, đi sâu vào những nỗ lực bí mật của Hoa Kỳ nhằm tác động, phá hoại và làm suy yếu chính quyền miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Không kể lại chiến tranh bằng tiếng súng ngoài mặt trận, cuốn sách mở ra một không gian khác: thế giới của các chiến dịch ngầm, hoạt động tình báo, tâm lý chiến và những kế hoạch được che giấu sau cánh cửa quyền lực ở Washington.
Tác phẩm tập trung phân tích chương trình OPLAN 34A cùng các chiến dịch liên quan, nơi CIA, Lầu Năm Góc và các cơ quan đặc biệt của Mỹ phối hợp thực hiện những hoạt động như xâm nhập biệt kích, phá hoại hậu phương, chiến tranh tâm lý, tung gián điệp và các hoạt động bán quân sự dọc theo bờ biển và biên giới miền Bắc. Richard H. Shultz Jr. không nhìn các chiến dịch này như những mẩu chuyện ly kỳ đơn lẻ, mà đặt chúng trong bối cảnh chiến lược tổng thể của Mỹ, cho thấy cách tư duy “chiến tranh bí mật” đã được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt mà chiến tranh quy ước không làm được.
Điểm nổi bật của Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội nằm ở nguồn tư liệu. Tác giả khai thác sâu các tài liệu giải mật, biên bản họp nội bộ, báo cáo quân sự và hồi ký của những người trực tiếp tham gia hoạch định chính sách. Nhờ đó, cuốn sách không chỉ thuật lại các chiến dịch đã diễn ra, mà còn phơi bày quá trình ra quyết định với đầy mâu thuẫn, ảo tưởng và tranh cãi trong giới lãnh đạo Mỹ. Người đọc thấy rõ sự chênh lệch giữa kỳ vọng của Washington và thực tế tại Việt Nam, nơi các hoạt động bí mật thường bị đối phương phát hiện, vô hiệu hóa hoặc phản tác dụng.
Richard H. Shultz Jr. dành nhiều trang để phân tích nguyên nhân thất bại của những chiến dịch này. Theo ông, vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật hay nguồn lực, mà sâu xa hơn là sự thiếu hiểu biết về đối phương, đánh giá sai ý chí chính trị và năng lực tổ chức của Hà Nội. Các nhà hoạch định Mỹ tin rằng áp lực ngầm sẽ làm lung lay tinh thần lãnh đạo miền Bắc, nhưng thực tế lại góp phần củng cố quyết tâm và tính chính danh của đối phương trong cuộc chiến kéo dài.
Về giọng điệu, cuốn sách giữ sự điềm tĩnh học thuật, tránh cực đoan hay kết luận cảm tính. Tác giả không biến tác phẩm thành lời buộc tội đơn thuần, mà coi đây là một nghiên cứu trường hợp điển hình về giới hạn của quyền lực và chiến tranh bí mật trong quan hệ quốc tế. Chính sự tiết chế này khiến Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội trở thành tài liệu tham khảo giá trị cho những ai quan tâm đến lịch sử Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu an ninh, tình báo và chính sách đối ngoại Mỹ.
Không chỉ dừng lại ở quá khứ, cuốn sách còn gợi mở nhiều suy ngẫm về hiện tại. Những bài học từ các chiến dịch bí mật chống Hà Nội vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh thế giới hiện đại, nơi các cường quốc tiếp tục sử dụng công cụ ngầm, chiến tranh phi đối xứng và tác động gián tiếp để theo đuổi lợi ích chiến lược. Với chiều sâu tư liệu và phân tích sắc sảo, Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội là một tác phẩm khó bỏ qua đối với người đọc muốn hiểu chiến tranh từ phía sau hậu trường quyền lực.
(hoctot.net.vn)

QUÂN VÀ DÂN MIỀN NAM ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HÓA HỌC CỦA MỸ TRONG NHỮNG NĂM 1961 - 1972Ts. NGUYỄN ĐỨC HÒANHÀ XUẤT B...
18/05/2026

QUÂN VÀ DÂN MIỀN NAM ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HÓA HỌC CỦA MỸ TRONG NHỮNG NĂM 1961 - 1972
Ts. NGUYỄN ĐỨC HÒA
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

Sách do Bảo tàng Chứng tích chiến tranh phối hợp cùng NXB Trẻ thực hiện. Cuốn sách trình bày có hệ thống cuộc đấu tranh chống vũ khí hóa học Mỹ của quân và dân miền Nam trên nhiều mặt trận, như quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao. Cuốn sách trình bày những vấn đề kỹ thuật các loại vũ khí hóa học, thực trạng sử dụng ở miền Nam, tác động của vũ khí hóa học đối với môi trường, con người, trong đó có cả binh sĩ Mỹ, những người trực tiếp sử dụng vũ khí hóa học.
Cuốn sách còn góp phần cung cấp thêm những tư liệu được hệ thống hóa nhằm phục vụ việc đấu tranh giành công bằng cho những nạn nhân của vũ khí hóa học, nhất là những người dân Việt Nam trực tiếp bị ảnh hưởng bởi loại chất độc này.
T.Vy (sggp.org.vn)

Nhớ lại vai diễn Hollywood lớn nhất của một diễn viên ViệtNăm 1989, cuốn tự truyện best-seller của bà Phùng Thị Lệ Lý (L...
16/03/2026

Nhớ lại vai diễn Hollywood lớn nhất của một diễn viên Việt

Năm 1989, cuốn tự truyện best-seller của bà Phùng Thị Lệ Lý (Le Ly Hayslip) When Heaven And Earth Changed Places (Khi đất trời đảo lộn), thuật lại những trải nghiệm của chính bà trong chiến tranh Việt Nam, đã lọt vào mắt xanh của đạo diễn Oliver Stone.
Sau đó, bộ phim Heaven And Earth (Trời và đất) được khởi quay và Lê Thị Hiệp được chọn làm diễn viên chính của bộ phim này.
Tuy nhiên, đó là bộ phim mà cả Oliver Stone lẫn Lê Thị Hiệp đều bị thất bại.
Tham vọng lập “hat-trick” của Oliver Stone
Oliver Stone quyết định sẽ trở về với chủ đề này thêm một lần nữa, với mong muốn hoàn tất trilogy (bộ ba) phim về Chiến tranh Việt Nam - sau thành công về nghệ thuật, lẫn thương mại của hai bộ phim trước đó, Platoon (1987) và Born On The Fourth Of July (1989). Bộ phim thứ ba được đặt tên Heaven And Earth.
Cho đến thời điểm đó, Oliver Stone chỉ làm những bộ phim nói về đàn ông, và phụ nữ chỉ là yếu tố tạo thú vị chứ không phải là yếu tố trung tâm của câu chuyện. Heaven And Earth là lần đầu tiên ông cố gắng tự đặt mình vào bên trong trí tưởng tượng của một phụ nữ.
Chiến tranh Việt Nam là sự ám ảnh với cá nhân Oliver Stone, nhưng cũng đồng thời là vùng đất mang lại cho ông những vinh quang lớn nhất trong sự nghiệp điện ảnh. Hai bộ phim Platoon và Born On The Fourth Of July vì nhiều lý do đã không được quay ở Việt Nam. Nhưng đến Heaven And Earth, ông được cấp kinh phí sản xuất lên đến 50 triệu USD, và Oliver Stone cho rằng không có gì tuyệt vời nếu được làm một bộ phim về Chiến tranh Việt Nam trên chính mảnh đất này.
Nhưng đáng tiếc, đến giờ chót, những bất đồng trong việc sửa đổi kịch bản với nhà chức trách Việt Nam, đã khiến đạo diễn Oliver Stone và các nhà sản xuất quyết định chuyển sang Thái Lan để quay giả cảnh Việt Nam.
Lê Thị Hiệp đã đi vào lịch sử như thế nào?
Thách thức lớn nhất của bộ phim là tìm được diễn viên Việt Nam phù hợp để thủ vai nữ chính - Phùng Thị Lệ Lý. Một cuộc casting quy mô lớn trên khắp các tiểu bang của nước Mỹ và các cộng đồng người Việt trên thế giới. Sau này theo thống kê cho biết, đã có khoảng 16.000 phụ nữ gốc Việt đã ứng tuyển vai này.
"Tôi chẳng biết sao mình lại có mặt ở đây... Anh họ tôi có nghe nói về buổi thử vai cho một bộ phim, và tôi chỉ đi theo chơi với một người bạn để xem nó như thế nào… Và họ hẹn tôi quay trở lại" - Lê Thị Hiệp - cô gái mới 20 tuổi học ngành tâm lý tại Trường Đại học California, Davis (UCD) - đã hồn nhiên nói về lần đầu đi chơi cho biết, nhưng lại bất ngờ được mời casting. Cô gái trẻ nhỏ nhắn tự tin bước vào buổi casting mà không chịu bất cứ một sức ép nào đã bộc lộ sự mạnh mẽ quyết đoán và ngây ngô một cách tự nhiên…
Đạo diễn Oliver Stone nhớ lại: "Các trợ lý của tôi đã nhìn thấy cô ấy và đề nghị quay thử. Họ nghĩ cô ấy có tiềm năng nên mời cô quay trở lại gặp tôi ở Los Angeles. Tôi nghĩ cô ấy có sức thu hút và cho cô quay thử với các diễn viên khác, giới thiệu cô với các nhân vật chính Tommy Lee Jones, Trần Xung và Haing S. Ngor. Chúng tôi đã kiểm tra, và bắt cô ấy thử đi thử lại trong khoảng năm tháng, liên tục, và cô ấy đã giành được vai diễn này. Tôi đã không gửi cô ấy đến bất cứ trường diễn xuất nào, vì muốn giữ nguyên sự tự nhiên mộc mạc rất cần thiết của nhân vật này".
Và thế là Lê Thị Hiệp đã trở thành cô gái châu Á may mắn nhất lúc đó, bởi Hollywood ở thời điểm ấy chưa từng có một phim kinh phí lớn nào mà vai chính trung tâm là một phụ nữ châu Á. Còn tính riêng Việt Nam thì đến nay đã 1/4 thế kỷ nhưng vẫn chưa có diễn viên nào (cả nam lẫn nữ) có được một vai diễn nặng ký như vậy (kể cả Đỗ Thị Hải Yến trong Người Mỹ trầm lặng).
Kết thúc kỷ nguyên phim Chiến tranh Việt Nam
Trong Heaven And Earth, thông qua số phận bi kịch của cô thôn nữ Việt Nam nhỏ bé, Oliver Stone không ngại ngùng mô tả trần trụi bộ mặt thật của chiến tranh với vô số hành động gây kinh hãi cho khán giả khi xem những cảnh Lệ Lý bị ngược đãi một cách tàn bạo và vô lý - bị làm mất thanh danh, bị tra tấn, bị bóc lột, bị lợi dụng, bị cưỡng hiếp, bị hành hung, bị chiếm đoạt, bị biến đổi, bị cách ly khỏi gia đình… (tượng trưng cho hình ảnh khổ đau của đất nước cô khi ấy) - là một trải nghiệm căng thẳng về cảm xúc. Nhưng nó minh họa một trong những chủ đề mà Oliver Stone ưa thích nhất: Trong chiến tranh, người dân vô tội luôn phải lãnh đủ những điều tồi tệ nhất.
Vai diễn Lệ Lý thật sự là quá nặng đối với “lính mới tay ngang” như Lê Thị Hiệp, và cô đã không thể nắm lấy cơ hội lớn nhất trong đời. Có thể nói, thất bại nặng nề của Heaven And Earth cũng có phần “góp công” rất lớn của cô! Tommy Lee Jones thủ vai chính Steve Butler - người đã cầu hôn Lệ Lý và đưa cô về Mỹ sinh sống - cũng chỉ làm tròn vai bởi nhân vật của anh quá mờ nhạt so với vai Lệ Lý.
Diễn viên Trung Quốc nổi tiếng Trần Xung được làm cho già và xấu xí để đóng vai bà mẹ cam chịu của Lệ Lý, nhưng khi xem phim ta có cảm giác giống như cô bị trao nhầm vai diễn. Haing S. Ngor, diễn viên Campuchia từng đoạt giải Oscar với bộ phim The Killing Fields thủ vai cha của Lệ Lý, cũng chỉ là một vai phụ không có gì nổi bật.
Có lẽ một trong những thất bại lớn nhất của bộ phim là việc Oliver Stone để cho tất cả các nhân vật người Việt Nam - bất kể là thân phận gì - đều sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính trong phim. Nghe các diễn viên đủ mọi quốc tịch: Việt kiều, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc… đóng vai người Việt phát âm theo kiểu tiếng Anh “bồi”, chiếm đến 80% thời lượng phim, thì quả thật là kinh khủng đối với khán giả Mỹ!
Bộ phim thất bại nặng nề tại Mỹ khi chỉ thu về chưa đến… 6 triệu USD năm 1993. Nó trở thành một “thảm họa” kinh hoàng nhất trong sự nghiệp của Oliver Stone. Thất bại chưa từng thấy này đã làm sụp đổ hàng loạt dự án phim có liên quan đến chủ đề Việt Nam. Nó chính thức khép lại một kỷ nguyên huy hoàng nhưng ngắn ngủi (kéo dài một thập niên) của đề tài Chiến tranh Việt Nam, mà Oliver Stone là người khởi xướng và cũng là người kết thúc nó, trong một đoạn kết không trọn vẹn!

Bá Vũ
(thethaovanhoa.vn)

Di sản đồ sộ gây tranh cãi của cố Ngoại trưởng Mỹ Henry KissingerDi sản phức tạpLà ngoại trưởng quyền lực nhất thời hậu ...
21/01/2026

Di sản đồ sộ gây tranh cãi của cố Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger
Di sản phức tạp
Là ngoại trưởng quyền lực nhất thời hậu chiến, Henry Kissinger vừa được tôn vinh vừa bị chỉ trích. Di sản phức tạp của ông vẫn còn tiếng vang trong quan hệ với Trung Quốc, Nga và Trung Đông.
Theo báo chí Mỹ, là trợ lý chính sách đối ngoại hàng đầu của Tổng thống Richard Nixon, ông Kissinger đã giúp vạch ra chiến lược quốc tế tổng thể của Mỹ nhằm thoát khỏi một cuộc chiến tranh không được lòng dân và vạch ra các mối quan hệ với hai cường quốc đối thủ. Cụ thể, ông đã đàm phán để Mỹ thoát khỏi Chiến tranh Việt Nam và đoạt giải Nobel Hòa bình.
Ông cũng là người chủ trương chính sách hòa dịu nhằm làm tan băng Chiến tranh Lạnh với Liên Xô và giúp phá bỏ bức tường ngoại giao khổng lồ bao quanh Trung Quốc trong 2 thập kỷ rưỡi.
Trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nixon, ông Kissinger phải đối mặt bối cảnh vụ bê bối Watergate; vụ scandal cuối cùng đã buộc tổng thống phải ra đi. Trong suốt thời gian đó, ông Kissinger quyết liệt bảo vệ sân chơi chính trị của mình.
Trong hồi ký “Những năm biến động” xuất bản năm 1982, ông Kissinger viết: “Mối quan tâm chủ yếu của tôi trong vụ Watergate không phải là các cuộc điều tra đã trở thành tâm điểm báo chí thời đó, mà là duy trì uy tín của Mỹ với tư cách là một cường quốc”.
Ông Kissinger đã đàm phán để Mỹ thoát khỏi Chiến tranh Việt Nam. Gần hai năm sau, chính sách “hòa bình trong danh dự” mà Tổng thống Nixon tự mô tả đã thất bại khi chế độ Sài Gòn sụp đổ dưới thời chính quyền của Tổng thống Gerald Ford.
Ông Kissinger cũng xây dựng chính sách hòa dịu nhằm làm tan băng Chiến tranh Lạnh với Liên Xô, và đóng vai trò nòng cốt trong việc phá bỏ “vạn lý trường thành” ngoại giao cô lập Trung Quốc Cộng sản trong 2 thập kỷ rưỡi. Thông qua chính sách ngoại giao con thoi của mình, ông đã ảnh hưởng tới các thỏa thuận giữa Israel, Ai Cập và Syria sau khi các nước Ảrập bất ngờ phát động Chiến tranh Yom Kippur năm 1973. Và trong ván cờ ngoại giao của mình với Liên Xô, ông ủng hộ các chế độ bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, bao gồm cả ở Chile và Pakistan.
Ba tháng sau vụ bê bối nghe lén Watergate vào ngày 17/6/1972, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon được xác nhận là ngoại trưởng, trở thành thành viên nội các đầu tiên sinh ra ở nước ngoài. Ông tiếp tục giữ chức cố vấn an ninh quốc gia cho đến ba tháng sau khi Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8/1974, và giữ chức ngoại trưởng đến khi Tổng thống Ford rời nhiệm sở vào năm 1977.
Trong cuốn sách “Cái giá của quyền lực” năm 1983, nhà báo Seymour Hersh đã chỉ trích ông Kissinger là kẻ lừa dối hai mặt. Cuốn tiểu sử “Kissinger” năm 1992 của nhà báo Walter Isaacson miêu tả cựu ngoại trưởng là một người thực dụng phức tạp, người nắm vững nghệ thuật sắc thái.
Trong cuốn sách “Vụ xét xử Henry Kissinger” năm 2001, nhà phê bình xã hội Christopher Hitchens gọi ông là tội phạm chiến tranh. Trong cuốn sách “Cái bóng của Kissinger” xuất bản năm 2015, nhà sử học cánh tả Greg Grandin cho rằng, những cuộc chiến không hồi kết cho thấy Mỹ vẫn đang phải trả giá cho các chính sách của ông Kissinger.
Nhưng cùng năm đó, một cuốn tiểu sử đồ sộ của nhà sử học bảo thủ Niall Ferguson đã miêu tả ông Kissinger là người theo chủ nghĩa lý tưởng, đi theo tầm nhìn của Kant hơn là chính sách thực dụng của Clausewitz hay Bismarck.
Đối với Barry Gewen, biên tập viên của tờ New York Times, chủ nghĩa lý tưởng của ông Kissinger dựa trên chủ nghĩa tiêu cực và bi quan. “Nhiệm vụ của các nhà hoạch định chính sách theo quan điểm của ông là khiêm tốn, về cơ bản là tiêu cực - cụ thể là không lèo lái thế giới đi theo một con đường đã định trước nào đó để đạt tới công lý phổ quát mà là đấu tranh giữa quyền lực với quyền lực để kiềm chế các hành vi xâm lược của con người và cố gắng, như tốt nhất có thể, để ngăn chặn thảm họa”, Gewen viết trong cuốn sách năm 2020 “Sự không thể tránh khỏi của bi kịch: Henry Kissinger và thế giới của ông”.
Gần đây hơn, ông Kissinger là một trong những thành viên hội đồng quản trị cấp cao của Theranos Inc. của Elizabeth Holmes trước khi công ty này giải thể vào năm 2018 do bị cáo buộc gian lận. Một thành viên hội đồng quản trị khác là George Shultz, đồng nghiệp trong chính quyền Nixon của ông Kissinger, có cháu trai làm việc tại Theranos và hóa ra lại là người tố cáo chính chống lại Homes.
Và ông Kissinger đã theo kịp địa chính trị thậm chí vào cuối đời. Ông đã bị chỉ trích vì đề xuất vào tháng 5/2022 rằng Ukraine nên nhượng một số đất cho Nga để đạt được thỏa thuận hòa bình. Những bình luận đó được đưa ra khoảng ba tháng sau khi lực lượng Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine.
Sau đó, phát biểu trên nền tảng trực tuyến vào tháng 1/2023 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, ông Kissinger cho rằng, Nga phải có cơ hội một ngày nào đó tái gia nhập hệ thống quốc tế sau bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào ở Ukraine và cuộc đối thoại với nước này phải được tiếp tục.
Ông Kissinger nói: “Điều này có vẻ rất trống rỗng đối với các quốc gia chịu áp lực của Nga trong phần lớn thời kỳ Chiến tranh Lạnh”. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng điều quan trọng là phải tránh leo thang xung đột giữa Nga và phương Tây vì nước này cảm thấy cuộc chiến đã trở thành “chống lại chính Nga”.
Thoát chết và tới Mỹ
Heinz Alfred Kissinger sinh ngày 27/5/1923 tại Fuerth (Đức), một vùng ngoại ô công nghiệp của thành phố Nuremberg thuộc vùng Bavaria, trong một gia đình Do Thái chính thống. Cha ông, Louis, là một giáo viên và mẹ ông, Paula, là một người nội trợ. Ông có em trai là Walter, sinh sau ông một năm và qua đời vào tháng 5/2021 ở tuổi 96.
Năm năm sau khi Hi**er lên nắm quyền, gia đình ông trốn khỏi Đức Quốc xã vào năm 1938, đầu tiên là tới London, sau đó tới New York. Chỉ 2 tháng rưỡi trước sự kiện Kristallnacht, khi đám đông bài Do Thái gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp nước Đức bằng cách đốt phá và hoành hành khắp các giáo đường Do Thái cũng như nhà cửa và cơ sở kinh doanh của người Do Thái vào ngày 9-10/11/1938, Kissinger mới 15 tuổi. Sau khi tốt nghiệp trường trung học George Washington ở New York, nơi ông tham gia các lớp học ban đêm trong khi làm việc tại một nhà máy sản xuất bàn chải cạo râu vào ban ngày, Kissinger đăng ký vào Trường Cao đẳng thành phố New York, dự định trở thành một kế toán viên.
Ba năm sau, vào năm 1943, ông gia nhập quân đội và nhanh chóng trở thành công dân Mỹ nhập tịch. Cuối cùng, ông trở lại Đức để chiến đấu với chế độ của Hi**er, chế độ đã sát hại bà của Kissinger và 12 thành viên khác trong gia đình ông.
Đầu tiên, ông Kissinger phục vụ trong bộ binh. Vào tháng 4/1945, ông và đồng đội trong Sư đoàn bộ binh 84 phát hiện ra một trại tập trung nhỏ ở Ahlem gần Hanover, giải phóng 35 tù nhân tiều tụy còn lại trong một sự kiện mà ông nhớ lại sáu thập kỷ sau là “trải nghiệm kinh hoàng nhất mà tôi từng trải qua”.
Với sự giúp đỡ từ một người Đức nhập cư khác trong quân đội Mỹ, Fritz Kraemer, binh nhì Kissinger được giao nhiệm vụ tình báo quân sự, chịu trách nhiệm giải trừ thành phố Krefeld ở miền Tây nước Đức. Sau đó, với tư cách là một trung sĩ, ông đã dẫn dắt các nỗ lực truy tìm phòng giam của các sĩ quan Gestapo ở vùng Hanover, giành được huân chương Ngôi sao Đồng và dẫn dắt các nỗ lực trừ khử Đức quốc xã ở miền nam Hesse.
Răn đe hạt nhân
Sau chiến tranh, ông Kissinger chuyển sang nghiên cứu lịch sử và lĩnh vực nghiên cứu chiến lược còn non trẻ. Ông được Đại học Harvard chấp nhận vào năm 1947 với nguồn tài trợ từ Dự luật GI. Ở đó, ông tìm được một người cố vấn khác, nhà sử học William Yandell Elliott. Bài luận của ông Kissinger “Ý nghĩa của lịch sử: Những suy ngẫm về Spengler, Toynbee và Kant” dài 388 trang (trong khi giới hạn của các bài nghiên cứu về chính phủ là 150 trang) được gọi một cách không chính thức là “Quy tắc Kissinger”. Sau khi tốt nghiệp hạng ưu, ông theo đuổi bằng tiến sĩ tại Harvard, viết luận án về hậu quả của Cách mạng Pháp “Một thế giới được khôi phục: Metternich, Castlereagh và các vấn đề hòa bình, 1812-1822”.
Năm 1951, ông Kissinger bắt đầu tổ chức Hội thảo quốc tế mùa hè của Harvard và năm sau đó, ông bắt đầu xuất bản tạp chí Confluence hằng quý.
Kissinger trở thành giảng viên vào năm 1954 và được chú ý rộng rãi nhờ cuốn sách “Vũ khí hạt nhân và Chính sách đối ngoại” năm 1957, trong đó ông đề xuất rằng một chính sách dựa trên tuyên bố sẵn sàng tham gia vào một cuộc chiến tranh hạt nhân hạn chế sẽ có tác dụng răn đe lớn hơn trong một thế giới lưỡng cực hơn là chiến lược trả đũa ồ ạt của chính quyền Eisenhower.
“Chính sách quân sự hiện tại của chúng ta dựa trên học thuyết trả đũa ồ ạt, rằng chúng ta đe dọa tấn công tổng lực vào Liên Xô trong trường hợp Liên Xô tiến hành xâm lược ở bất cứ đâu. Điều này có nghĩa là, chống lại hầu hết mọi hình thức tấn công, chúng ta căn cứ vào chính sách về mối đe dọa sẽ liên quan đến sự hủy diệt của toàn nhân loại; và điều này quá rủi ro và tôi nghĩ quá tốn kém”, Kissinger nói trong một cuộc phỏng vấn năm 1958 bằng giọng trầm trầm khô khan kiểu Đức của mình.
Chiến lược của Mỹ phải đối mặt với thực tế là có thể phải đối mặt với chiến tranh, và nếu sự xâm lược của Liên Xô khiến chúng ta phải đối mặt với chiến tranh, chúng ta không sẵn lòng kháng cự, điều đó có nghĩa là sự kết thúc tự do của chúng ta… Tôi nghĩ chiến tranh phải được biến thành một công cụ chính sách có thể sử dụng được”, ông nói.
“Hòa bình trong tầm tay”
Kissinger từng giữ vai trò cố vấn trong chính quyền Kennedy và Johnson và trở thành cố vấn hàng đầu cho tỷ phú ôn hòa thuộc đảng Cộng hòa Nelson Rockefeller trước chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1968.
Ngay trước Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hòa năm đó, Kissinger nói: “Richard Nixon là người nguy hiểm nhất trong số những người tranh cử tổng thống”. Nhưng sau khi Nixon giành được đề cử trước Rockefeller và Thống đốc bang Michigan George Romney và đánh bại đảng viên Đảng Dân chủ Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử, ông đã bổ nhiệm Kissinger làm cố vấn an ninh quốc gia vào năm 1969.
Trong nỗ lực thoát khỏi Việt Nam trong năm đầu tiên của chính quyền Nixon, Mỹ đã tiến hành một chiến dịch ném bom bí mật chống lại Campuchia để dọn sạch các khu vực đóng quân. Năm 1970, Mỹ tiến hành một cuộc “xâm nhập” vào Campuchia, gây ra các cuộc biểu tình phản chiến lớn ở Mỹ.
Chưa đầy hai tuần trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11/1972, trong đó Nixon bị Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ George McGovern thách thức, Kissinger tuyên bố rằng “chúng tôi tin rằng hòa bình đã ở trong tầm tay”. Ông nói thêm: “Điều không thể tránh khỏi là trong một cuộc chiến phức tạp như vậy, đôi khi sẽ có những khó khăn trong việc đạt được giải pháp cuối cùng”. “Nhưng chúng tôi tin rằng cho đến nay, đoạn đường dài nhất đã được đi qua và những gì cản trở việc đạt được thỏa thuận hiện nay là những vấn đề tương đối ít quan trọng hơn những vấn đề đã được giải quyết”.
Tuy nhiên, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phản đối dự thảo hiệp định. Để đạt được đòn bẩy trong các cuộc đàm phán hòa bình do Kissinger dẫn đầu, Tổng thống Nixon đã điều máy bay B-52 ném bom rải thảm miền Bắc Việt Nam những ngày trước Giáng sinh năm 1972 và ra lệnh rải mìn trên các tuyến đường thủy của miền Bắc Việt Nam, cuối cùng bao gồm cả cảng Hải Phòng vào năm 1973.
Đến Trung Quốc
Một trong những thắng lợi lớn nhất của chính sách Nixon-Kissinger là sự mở cửa mang tính đột phá đối với Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Mao Trạch Đông. Washington từ lâu đã ủng hộ chính quyền của Quốc dân đảng, vốn trốn khỏi đại lục sang đảo Đài Loan vào năm 1949. Bất chấp cuộc Cách mạng Văn hóa vào giữa những năm 1960, Nixon và Kissinger coi Chủ tịch Mao là người sẵn sàng đàm phán sau khi Trung Quốc gây chiến tranh biên giới với Liên Xô vào năm 1969.
Quốc gia quan trọng hỗ trợ việc xích lại gần nhau giữa Washington và Bắc Kinh là Pakistan, nước đã chiến đấu với Ấn Độ được Mátxcơva hậu thuẫn vào năm 1971 trong một cuộc chiến mà Đông Pakistan ly khai và trở thành Bangladesh.
Tướng quân đội Pakistan, Agha Muhammad Yahya Khan, bị buộc tội giết ít nhất 200.000 người bắt đầu từ tháng 3/1971. Bất chấp tình trạng tàn sát, Kissinger và Nixon nghiêng về phía Pakistan. Tháng 7/1971, Kissinger thực hiện chuyến đi bí mật đầu tiên tới Bắc Kinh, bay thẳng từ Pakistan.
Vào tháng 2/1972, Nixon thực hiện chuyến đi hoành tráng tới Trung Quốc, gặp Chủ tịch Mao đang ốm yếu và được Thủ tướng Chu Ân Lai chiêu đãi và dùng bữa tối tại Đại lễ đường Nhân dân, mở ra sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Trở lại Liên Xô
Sự tan băng với Bắc Kinh đã mang lại cho Kissinger đòn bẩy chống lại đối thủ chính của Mỹ là Liên Xô. Ba tháng sau Thông cáo Thượng Hải, Washington và Mátxcơva đã ký Thỏa thuận đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược, đỉnh cao của 2 năm rưỡi đàm phán và Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo tại hội nghị thượng đỉnh ở Mátxcơva giữa Nixon và lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev vào tháng 5/1972.
Kissinger hy vọng rằng nhờ mối quan hệ được cải thiện với Mátxcơva và Bắc Kinh, hai cường quốc cộng sản này có thể giúp rút Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Kissinger kiên trì tập trung vào việc cải thiện quan hệ với Mátxcơva đến mức ông mạnh mẽ khuyên Tổng thống Nixon bỏ qua việc đàn áp những người Do Thái tìm cách di cư khỏi Liên Xô. Vào thời điểm đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Henry Jackson và Hạ nghị sĩ Mỹ Charles Vanik nỗ lực ngăn chặn việc nới lỏng thương mại với Liên Xô trừ khi họ cho phép người Do Thái rời đi.
Trong cuộc trò chuyện được ghi âm năm 1973 với tổng thống, được công bố năm 2010, Kissinger nói với Nixon: “Việc di cư của người Do Thái khỏi Liên Xô không phải là mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ”.
Ngoại giao con thoi
Bất chấp sự hòa hoãn của Washington với Mátxcơva, ông Brezhnev đe dọa đơn phương gửi quân đội Liên Xô tới giải cứu Tập đoàn quân số 3 của Ai Cập đang bị vây hãm trong thời gian vi phạm lệnh ngừng bắn trong cuộc chiến năm 1973 với Israel.
Kissinger, Chánh văn phòng Nhà Trắng Alexander Haig và các trợ lý khác đã lên kế hoạch phản ứng với Mátxcơva: nâng mức cảnh báo của quân đội Mỹ lên DefCon III - trạng thái sẵn sàng cao nhất trong thời bình. Họ cũng gửi công hàm hòa giải và Mátxcơva đã lùi bước.
Nhưng Mỹ cũng tiếp tế cho quân đội Israel, dẫn đến lệnh cấm vận dầu mỏ của Ảrập do Ảrập Xêút dẫn đầu đối với phương Tây và Nhật Bản.
Bốn ngày sau, Ai Cập và Israel đạt được lệnh ngừng bắn tạm thời, và trong một tuần nữa, Kissinger bắt tay vào chính sách ngoại giao con thoi của mình. Ngay cả trước cơn lốc ngoại giao đó, ông đã đến thăm ít nhất 26 quốc gia trong 3 tháng rưỡi đầu tiên làm ngoại trưởng, từ tháng 10 đến tháng 12/1973.
Trong chuyến đi tới Cairo, Kissinger đã đạt được thỏa thuận với Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat vào ngày 7/11/1973 để khôi phục quan hệ ngoại giao vốn đã bị cắt đứt trong thất bại ê chề của thế giới Ảrập trong Chiến tranh 6 ngày năm 1967.
Đảo chính ở Chilê
Ở châu Mỹ, Nixon và Kissinger phải đối mặt với cuộc bầu cử năm 1970 của người theo chủ nghĩa Mác Salvador Allende Gossens làm tổng thống Chile. Cuộc bầu cử đã đặt ra câu hỏi về liên minh giữa Chile và Cuba dưới sự lãnh đạo của ông Fidel Castro, kẻ thù của Washington.
Trong lời khai trước quốc hội, Kissinger phủ nhận mục đích là lật đổ Tổng thống Allende Gossens, nói rằng chính quyền lo ngại về cuộc bầu cử tự do vào năm 1976 ở Chile. Nhưng các tài liệu của Nhà Trắng được giải mật cho thấy Kissinger đã gây sức ép để gây bất ổn cho chính phủ của ông Allende Gossens.
Trong một bản ghi nhớ bí mật vào ngày 5/11/1970, Kissinger cảnh báo rằng khoản đầu tư 1 tỷ USD của Mỹ vào Chile có thể bị mất. Kissinger viết: “Việc bầu Allende làm Tổng thống Chile đặt ra cho chúng ta một trong những thách thức nghiêm trọng nhất từng phải đối mặt ở bán cầu này”.
Ông viết thêm trong bản ghi nhớ: “Những gì xảy ra ở Chile trong vòng 6 đến 12 tháng tới sẽ có những hậu quả vượt xa mối quan hệ Mỹ-Chile. Chúng sẽ ảnh hưởng đến những gì xảy ra ở phần còn lại của châu Mỹ Latinh và thế giới đang phát triển; đến vị thế tương lai của chúng ta ở bán cầu; và đến bức tranh thế giới rộng lớn hơn, bao gồm cả mối quan hệ của chúng ta với Liên Xô. Chúng thậm chí sẽ ảnh hưởng đến chúng ta, quan niệm riêng về vai trò của chúng ta trên thế giới”.
Bản ghi nhớ viết tiếp: “Việc chúng ta không phản ứng trước tình huống này có nguy cơ bị châu Mỹ Latinh và châu Âu coi là thờ ơ hoặc bất lực trước những diễn biến bất lợi rõ ràng ở một khu vực từ lâu được coi là phạm vi ảnh hưởng của chúng ta”.
Sau khi Chile quốc hữu hóa hoàn toàn ngành đồng vào năm 1971, Mỹ đã cắt tín dụng. Hai năm sau, vào ngày 11/9/1973, quân đội lật đổ Allende Gossens vài ngày sau khi CIA nhận được tin báo trước về kế hoạch đảo chính.
Thái An (theo báo chí Mỹ)
(tienphong.vn)

Address

Ã?A Nang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sách về chiến tranh Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Sách về chiến tranh Việt Nam:

Shortcuts

Share