Trung Tâm Dinh Dưỡng Vật Nuôi greenfree

Directions Website

Trung Tâm Dinh Dưỡng Vật Nuôi greenfree Cung cấp sản phẩm dinh dưỡng cho vật nuôi

Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ theo hướng bền vữngNhững năm qua, ngành chăn nuôi gia súc ăn cỏ (GSĂC) nước ta có nhi...
19/07/2021

Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ theo hướng bền vững

Những năm qua, ngành chăn nuôi gia súc ăn cỏ (GSĂC) nước ta có nhiều bước tiến đáng ghi nhận, từ nguồn giống đến quy trình chăn nuôi, thức ăn; phần lớn số lượng đầu con và sản lượng sản phẩm của đàn GSĂC có xu hướng tăng. Thời gian tới, để phát triển GSĂC theo hướng bền vững, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ, hiệu quả hơn.

Khai thác chưa hết tiềm năng

Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, từ năm 2016 đến 2018, tổng đàn bò của cả nước tăng nhẹ, tốc độ tăng trưởng trung bình là 2,75%. Tốc độ tăng trưởng của bò lai là 4,27%/năm, bò sữa là 2,09%/năm; dê, cừu là 15,45%/năm; thỏ là 12,88%/năm và hươu, nai là 6,19%/năm. Cùng với đó, nhiều chính sách (về nghiên cứu khoa học, khuyến nông, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ thiên tai, kiểm soát dịch bệnh...) đã và đang đi vào thực tiễn, thu hút người dân và các doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm các loại GSĂC trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi chuyển dịch theo hướng trang trại, tập trung chuyên nghiệp và công nghiệp hơn. Nhiều tiến bộ kỹ thuật (TBKT) được nghiên cứu, cập nhật và chuyển giao cho sản xuất, nhất là các TBKT về giống, chuồng trại và thức ăn dinh dưỡng vật nuôi. Phương thức chăn nuôi có những thay đổi tích cực, hình thành nhiều chuỗi liên kết có hiệu quả trong sản xuất như: Chăn nuôi hươu sao, dê, cừu thịt; chăn nuôi bò sữa hiện chiếm tỷ lệ gần 100%. Thị trường giá cả và các sản phẩm GSĂC cơ bản ổn định, bảo đảm người chăn nuôi có lãi.

Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Tống Xuân Chinh, kết quả đạt được chưa được như mong muốn, bởi cả nước hiện sản xuất khoảng 5,5 triệu tấn thịt các loại, trong đó sản lượng thịt GSĂC chỉ khoảng 8,6%, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với thịt lợn và gia cầm. Qua khảo sát thực tế, mức tiêu thụ thịt bò trung bình của người Việt Nam năm 2018 là 3,15 kg thịt xẻ/người/năm; tiêu thụ sữa bình quân đạt 27 kg/người/năm, dự báo đến năm 2020, đạt khoảng 28 kg/người/năm, thấp hơn hẳn so với mức trung bình của các quốc gia trên thế giới. Trong các sản phẩm GSĂC, chúng ta mới chỉ xuất khẩu chính ngạch được sữa và các sản phẩm từ sữa đến gần 50 quốc gia; thịt và sản phẩm thịt xuất khẩu tiểu ngạch qua Trung Quốc.

Các chuyên gia cho rằng, mặc dù có nhiều lợi thế, song ngành chăn nuôi GSĂC chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có, vẫn phải đối mặt với một số thách thức như: Chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán còn chiếm tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ tiên tiến, công tác kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm, năng suất, giá thành. Công tác thanh tra, kiểm tra về sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi còn nhiều hạn chế, nhất là ở các địa phương. Bên cạnh đó, chăn nuôi GSĂC, nhất là bò sữa đòi hỏi tỷ suất đầu tư lớn, chu kỳ sản xuất dài, thời gian thu hồi vốn chậm, có tính rủi ro cao, cho nên phần lớn người sản xuất khó tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển. Việc chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang trồng cỏ và cây thức ăn cho GSĂC ở nhiều nơi còn gặp khó khăn. Mô hình liên kết trong chăn nuôi bò thịt còn hạn chế, giá thịt bấp bênh, phụ thuộc vào thị trường. Tình hình nhập lậu vật nuôi sống nhất là bò thịt và sản phẩm chăn nuôi từ nước ngoài qua biên giới đường bộ vào nước ta vẫn chưa được kiểm soát tốt, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh bùng phát, ảnh hưởng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng, so với ngành khác, chăn nuôi là ngành có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn nhất. Thực tế cho thấy, nếu không xuất khẩu được thì không tạo ra động lực phát triển. Do vậy, trong giai đoạn mới, cần cơ cấu lại ngành theo hướng chú trọng phát triển các loài GSĂC để phù hợp thực tiễn tại Việt Nam và theo xu thế chung của thế giới. Chia sẻ về vấn đề này, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản Nguyễn Quốc Toản cho biết thêm, cần phân loại sản phẩm để hướng tới các đối tượng tiêu dùng khác nhau. Trước mắt ưu tiên phát triển các sản phẩm sữa chế biến đáp ứng yêu cầu của thị trường Trung Quốc, và các thị trường khác trong khu vực như: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Xin-ga-po...

Theo Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương, muốn đạt thành quả khởi sắc hơn, tới đây cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Có thêm các cơ chế, chính sách về đất đai, nguồn vốn cũng như tạo điều kiện để doanh nghiệp liên kết với các hộ chăn nuôi hướng đến sản xuất hàng hóa lớn. Tận dụng những thế mạnh, tổ chức sản xuất để khai thác tốt, nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm sản phẩm GSĂC, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tích hợp quy hoạch phát triển chăn nuôi ở cụm tỉnh, vùng, miền với quy hoạch chung của quốc gia. Xây dựng vùng chăn nuôi GSĂC gắn với trồng, chế biến cây thức ăn thô, xanh; tiếp tục chuyển đổi diện tích đất lúa, nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi; chế biến phụ phẩm công nghiệp, nông nghiệp. Áp dụng công nghệ sinh học trong việc chế biến thức ăn để tăng hiệu quả sử dụng. Từng bước chuyển dần chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo quy mô trang trại, công nghiệp, phù hợp thực tế địa phương. Thống nhất hệ thống quản lý giống trâu, bò sữa, bò thịt ở các cơ sở nhân giống trên phạm vi cả nước gắn liền với hệ thống thụ tinh nhân tạo, cấy truyền phôi. Ðẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, dự báo thị trường và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu sản phẩm đến các thị trường tiềm năng. Tổ chức liên kết giữa các khâu trong sản xuất chăn nuôi theo chuỗi giá trị từ: Sản xuất - thu mua - chế biến - bảo quản - tiêu thụ sản phẩm; chú trọng liên kết theo chuỗi sản phẩm từ khâu sản xuất đến thị trường, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm để liên kết với các tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, hội, hiệp hội ngành hàng. Xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm. Phấn đấu duy trì mức tăng trưởng trung bình giá trị sản phẩm của GSĂC giai đoạn 2019 - 2025 đạt từ 5% đến 6%/năm. Sản lượng thịt hơi GSĂC đến năm 2025 đạt hơn 500 nghìn tấn, chiếm hơn 10% tổng sản lượng thịt các loại. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu đạt từ 1,8 đến 2 triệu tấn (khoảng 35 kg/người/năm) và hướng đến phát triển bền vững trong tương lai.

TÌM HIỂU NGHỀ NUÔI VỊT Thịtl. Giới thiệu một số giống vịt nuôi thịt1. Vịt Xiêm: Vịt này có nhiều dòng, có nhiều màu lông...
17/07/2021

TÌM HIỂU NGHỀ NUÔI VỊT Thịt

l. Giới thiệu một số giống vịt nuôi thịt

1. Vịt Xiêm: Vịt này có nhiều dòng, có nhiều màu lông khác nhau: Xiêm trắng, Xiêm đen, Xiêm xám. Nông dân thường thích nuôi vịt xiêm trắng hơn vịt xiêm đen, vì nó có sức đề kháng cao hơn, bắt mồi trên cạn giỏi, ăn tạp và ăn được nhiều chất xơ.

Đặc điểm vịt xiêm là đầu to, con cái có mào đỏ sặc sỡ. Con đực mào nhạt hơn, cổ ngắn, thân hình dài, lưng rộng, ngực nở, cánh phát triển, chân ngắn dáng đi nặng nề. Nuôi lấy thịt 4 tháng đạt 4 kg, nuôi lấy trứng năng suất thấp 60 - 70 quả/mái/năm.

2. Vịt Bắc Kinh: Đặc điểm ngoại hình đầu to ngắn và rộng, mỏ và chân màu vàng, khỏe, đùi ngắn và to. Lông trắng, dáng đi nặng nề. Vịt trưởng thành con đực nặng 3,0 - 3,5 kg/con. Năng suất trứng 130 - 150 quả/mái/năm.

3. Vịt Anh đào: Có nguồn gốc từ thung lũng Anh Đào nước Anh, nhập vào miền Nam năm 1975. Vịt Anh Đào có màu lông trắng. Vịt đực trưởng thành nặng trên 4 kg, vịt mái nặng trên 3,5 kg, sản lượng trứng 100-110 quả/năm.

4. Vịt CV Super M: Được nhập từ Anh vào nước ta năm 1989. Đây là giống vịt có năng suất cao nhất thế giới. Con đực trưởng thành nặng 4,7 kg/con. Con mái nặng 3,7 kg/con. Trại Vigova nhập về nhân giống, dòng cao sản nuôi 42 ngày tuổi đạt 2,8 kg/con và 60 ngày tuổi đạt 3 kg/con. Chi phí thức ăn 2,2 - 2,6 kg cho 1,0 kg tăng trọng. Vịt nuôi chạy đồng đạt 2,8 - 3,0 kg thức ăn lúc 70 - 75 ngày nuôi. Chi phí thức ăn thêm cho lkg tăng trọng 1,2 - 1,5 kg.

II. Chọn giống

Vịt nuôi lấy thịt tốt nhất là nhận con giống từ nơi sản xuất giống đạt tiêu chuẩn, chọn những con lông bông và mịn, mắt sáng, to, lanh lợi, chân bóng mượt, nhanh nhẹn khỏe mạnh. Không chọn con bị dị tật, quá bé hoặc quá to so với trung bình của con giống như: hở rốn, yếu, khèo chân, nặng bụng bết lông…

III. Chuồng trại, chăm sóc và nuôi dưỡng

1. Phương thức nuôi chăn thả

a. Chuồng nuôi: Chọn địa điểm làm chuồng cao ráo, độ dốc vừa phải, gần nguồn nước để cho vịt tập bơi. Chuồng phải thoáng mát sạch sẽ, khô ráo) tránh mưa tạt gió lùa, thời gian chiếu sáng là 2~3 giờ trong ngày, chuồng úm phải có nắp đậy để tránh mèo, chuột chui vào, chất độn chuồng không bị ẩm mốc. Nếu nuôi vịt ngoài trời phải thay đổi chỗ úm, không nên nhốt một chỗ dễ bị bùn lầy phân, nhiễm bệnh sinh dịch bệnh cho vịt.

b. Quây vịt: Vịt con từ 1 - 7 ngày tuổi, nếu không có chuồng úm chúng ta có thể úm vịt bằng cách quây vịt, tiện việc sưởi ấm vịt. Vịt con được nhốt trong một cái quây khoảng 100 - 300 con. Quây được làm báng tre, thành quây cao khoảng 0,3 - 0,5 m, tùy theo tuổi của vịt, chất độn chuồng lót bằng rơm, trấu. Máng ăn và máng uống, bóng đèn bố trí đều trong quây úm. Úm được 1 tuần giảm bớt bóng đèn, tập cho vịt bơi lội được từ từ.

c. Chăm sóc, nuôi dưỡng

- Giai đoạn từ 1 - 3 ngày tuổi: Vịt mới đem về cho nghỉ khoảng 30 phút, sau đó cho vịt uống nước pha đường 5% và Vitamin C, tiếp theo cho vịt ăn cơm hoặc gạo lức (cơm nấu chín để nguội rải đều trên tràng), mỗi ngày cho vịt ăn 5 lần.

Luôn giữ cho chuồng úm khô ráo sạch sẽ, tránh gió lùa, nước uống phải sạch sẽ, nhiệt độ úm từ 32 - 34oC.

- Giai đoạn 3 - 21 ngày: Tập cho vịt ăn thêm rau xanh và tập cho vịt quen với nước, thời gian tăng dần 5 - 10 phút, vào những lúc nắng ấm. Sau 7 - 10 ngày cho vịt tắm tự do

+ Thức ăn: Tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương mà cho vịt ăn thức ăn khác nhau:

Cho vịt ăn hoàn toàn bằng thức ăn viên dùng cho vịt con và cho ăn nhiều bữa trong ngày, không cho ăn thừa, gây chua, ẩm mốc dễ bị bệnh. Lượng thức ăn trong giai đoạn này là 1,6 - 2,0 kg/con.

Lượng thức ăn tự nhiên cho vịt ăn, ta có thể trộn theo công thức sau:

Gạo hoặc tấm: 62%.

Cá hoặc ruốc khô (lạt): 12%.

Bột đậu nành rang: 25%.

Premix, vitamirl, khoáng: 2l%.

Cách cho ăn như sau: Gạo, tấm đem ngâm nước hoặc nấu thành cơm để nguội, sau đó trộn đều với cá, ruốc, bột đậu nành rang, premix, trộn bữa nào ăn bữa đó.

Từ ngày thứ 16 tập cho vịt ăn lúa bằng cách thay 1 phần thức ăn viên hay gạo bằng lúa nấu chín. Sau đó từ tử thay bằng lúa sống.

Giai đoạn 22 ngày đến ngày giết thịt: Tận dụng thức ăn đồng ruộng sau những mùa thu hoạch, nếu vịt đói cho ăn thêm lúa và mồi tươi theo tỉ lệ 3 lúa + 2 mồi tươi. Vịt được vỗ béo 5 - 7 ngày trước khi bán cho ăn bằng lúa hoặc thức ăn viên của các công ty.
Bên cạnh đó, bà con nên sử dụng chế phẩm sinh học Vườn sinh thái có tác dụng Giúp vịt mau lớn, tăng sức đề kháng, tăng cân, chắc thịt, đẻ sai và thu ngắn thời gian nghĩ giữa những chu kỳ đẻ, tăng hấp thu giúp giảm mùi hôi phân, giảm dịch bệnh. Mô hình nuôi vịt đang là phương pháp khởi nghiệp phổ biến với nhiều bà con.

2. Phương thức thâm canh

Chuồng nuôi vịt:

- Nuôi vịt trên sàn lưới: Dùng lưới có đường kính lcm và thiết kế thành hệ thống sàn vững chắc, mặt sàn cách mặt đất 0,8 - 1,0 m. Nền chuồng bằng xi măng có độ dốc 3% và với một hệ thống thoát nước. Phân lô trên chuồng phù hợp với đàn vịt. Máng ăn, máng uống phân bố đều trong chuồng vệ sinh sạch sẽ trước khi cho ăn, đèn sưởi ấm được phân bố trong chuồng. Hằng ngày nên vệ sinh dưới sàn cho sạch phân.

- Nuôi trên nền đất: Nền chuồng được tráng bằng xi măng, có chất độn chuồng bằng rơm, dăm bào khô sạch, Nền chuồng được phân nhiều lô phù hợp đàn vịt, mỗi ngày nên thường xuyên quét dọn thay chất độn chuồng.

Cách chăm sóc nuôi dưỡng tương tự như phương thức trên, nhưng cần lưu ý một số điểm sau:

* Hai ngày đầu: Cho vịt ăn cơm, giữ ấm cho vịt.

* Giai đoạn từ 3 - 21 ngày:

- Cho vịt ăn hoàn toàn thức ăn viên (dùng cho vịt).

- Đảm bảo nước đầy đủ, sạch.

- Thắp sáng cho vịt vào ban đêm, tránh gió lùa.

* Giai đoạn 22 ngày đến giết thịt, cho vịt ăn thức ăn vịt lứa, ăn 3 - 4 bữa trong ngày. Có thể tận dụng ăn 50% thức ăn viên + 50% lúa, xác mì, cua, ốc, rau xanh... tận dụng thức ăn gia đình. Nuôi vịt bằng cách này có thể đạt 2,8 - 3,0 kg/con lúc 60 ngày tuổi
Hằng ngày nên quan sát đàn vịt để can thiệp kịp thời:

Nếu vịt phân bố đều trong chuồng, chứng tỏ vịt khỏe.

Nếu vịt tập trung xung quanh đèn, chứng tỏ vịt lạnh phải bố trí thêm bóng đèn hoặc hạ thấp bóng đèn.

Nếu vịt con tản xa đèn, nằm há mỏ thở, giơ cánh lên, chứng tỏ vịt bị nóng, ta phải bớt bóng đèn sưởi, hoặc treo bóng đèn lên cao hơn.

- Nếu vịt không chơi không chạy nhảy, nằm một chỗ, chứng tỏ vịt bị gió lùa.

- Nếu vịt bị bết đít chứng tỏ chuồng bị ẩm thấp, chế độ thức ăn bị dư thừa làm cho vịt bị tiêu chảy.

- Nếu vịt lười ăn, lười uống, phân bất thường phải nhờ bác sĩ thú y đến can thiệp.

IV. Phòng bệnh cho vịt

1. Thực hiện 3 sạch: Ăn sạch, ở sạch, uống sạch

Thời gian chích: Lúc 15 - 18 ngày tuổi.

2. Phòng bệnh dịch tả cho vịt

Thời gian chích: Lúc 15 - 18 ngày tuổi.

Loại vaccin: Dùng vaccin dịch tả dạng đông khô của Trung tâm thú y Nam bộ sản xuất.

Cách dùng: 1 lọ vaccin dịch tả pha với 200 ml sinh lý mặn, chích dưới da liều 1,0 ml/con.

Hiện nay chưa có thuốc trị bệnh dịch tả.

3. Phòng các bệnh thông thường khác

Nên thường xuyên trộn kháng sinh vào thức ăn cho vịt vào những lúc thời tiết thay đổi.

MÔ HÌNH NUÔI GÀ ĐỂ TRỨNG SẠCH1. Hướng đi mới cho mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạchViệc chăn nuôi gà đẻ theo mô hình chă...
16/07/2021

MÔ HÌNH NUÔI GÀ ĐỂ TRỨNG SẠCH

1. Hướng đi mới cho mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch
Việc chăn nuôi gà đẻ theo mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch đang là giải pháp chăn nuôi gà được nhiều người thử nghiệm và hưởng ứng, đây cũng là một hướng chăn nuôi mới rất được mọi người áp dụng và tin tưởng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân chăn nuôi gà và mang tới lượng trứng sạch khổng lồ cung ứng cho thị trường.

Bước đầu tiên trong mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch là phải phải có hệ thống chuồng trại đa dạng và được kết hợp với nhiều hình thức nuôi trồng khác nhau, nhằm mang lại cho người nông dân nhiều hiệu quả chăn nuôi tốt có hiệu quả kinh tế cao.

2. Phương pháp chăn nuôi gà theo mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch
Phương pháp chăn nuôi gà theo mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch là giải pháp áp dụng những phương pháp chăn nuôi gà sạch và cải tiến hiện đại hơn. Điều quan trọng là những dụng cụ cho ăn trong chuồng trại bà con cần phải đảm bảo vệ sinh và sạch sẽ, trong chuồng trại chăn nuôi cũng phải đảm bảo vệ sinh, dùng vôi để tẩy uế và sử dụng thuốc sát trùng diệt sạch vi khuẩn trong chuồng trại trước khi tiến hành chăn nuôi gà

Bên cạnh đó bà con cũng cần bổ sung hệ thống đèn chiếu sáng chuyên dụng trong quá trình chăn nuôi và thường xuyên kiểm tra về trọng lượng gà hiện nay.

Ngoài việc chọn chuồng trại hợp lý bà con cần đảm bảo khâu chọn gà giống phải phù hợp, trong đó việc chọn giống gà đẻ tại các cơ sở cung cấp con giống uy tín cũng là giải pháp chọn con giống phù hợp cho bà con.

Gà chăn nuôi theo mô hình gà đẻ trứng sạch phải đúng quy trình, có quy mô khép kín và đảm bảo áp dụng đầy đủ các kỹ thuật cần thiết trong chăn nuôi.

Bà con cần đảm bảo tuân thủ đúng với quy trình chăn nuôi gà khoa học , đúng kỹ thuật đối với gà đẻ để có thể tạo ra được những sản phẩm trứng sạch cung ứng cho thị trường hiện nay.

Với một mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng sạch hoàn toàn theo hướng an toàn sinh học, phương pháp chăn nuôi này cũng không tiêu tốn quá nhiều vốn đầu tư của bà con, không mất nhiều thời gian chăm sóc mà hiệu quả kinh tế lại cao rõ rệt, là mô hình chăn nuôi vô cùng thích hợp để chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ hoặc chăn nuôi theo quy mô lớn.

Lợn nái sinh sản kém, chậm động dục, số lượng và chất lượng lợn con thấp? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:Lợn nái sin...
15/07/2021

Lợn nái sinh sản kém, chậm động dục, số lượng và chất lượng lợn con thấp? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:
Lợn nái sinh sản kém, chậm động dục, số lượng và chất lượng lợn con thấp? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
1: Hội chứng rối loạn sinh sản xuất hiện ở lợn có rất nhiều nguyên nhân:

- Do thức ăn có giá trị dinh dưỡng kém, mất cân đối thành phần và giá trị dinh dưỡng, hôi mốc có nhiều độc tố... Việc cho lợn ăn nhiều chất bột, chất đường sẽ làm cho lợn béo mập, nhiều mỡ. Trong khi đó thiếu đạm và vitamin A, D, E sẽ làm cho buồng trứng chậm phát triển và làm chậm quá trình động dục hoặc không động dục ở heo. lợn nái có chửa thai thường yếu và quái thai... Thức ăn hôi mốc sản sinh ra độc tố như Afla- toxin... cũng là nguyên nhân gây ngộ độc ở heo, gây ra sẩy thai, chậm chu kỳ động dục, đẻ ít con...

- Do nuôi lợn trong chuồng trại chật hẹp, không thường xuyên đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển. Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản.

- Do hiện tượng lai tạo đồng huyết, cận huyết cũng làm cho giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh. lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra các quái thai...

- Do rối loạn nội tiết: Các kích dục tố của lợn phát triển không bình thường khiến cho buồng trứng phát triển không ổn định, trứng không rụng hoặc rụng ít và không đều, khả năng thụ thai kém..

- Do virus gây nên hội chứng rối loạn sinh sản, nhất là sẩy thai, thai chết lưu...

2: Biện pháp phòng trị:

- Kiểm tra lại thức ăn cho lợn có đảm bảo chất lượng hay hôi mốc gì không để loại bỏ thức ăn hôi mốc và cân đối lại thành phần và giá trị dinh dưỡng chất bột, đường, đạm, khoáng và sinh tố cho hợp lý. Bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố A, D, E có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu, đỗ, dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon...

- Trường hợp do nhiễm độc Aflatoxin: Phải loại bỏ ngay những thức ăn bị hôi mốc...

- Tiêm thuốc kích dục tố cho lợn như huyết thanh ngựa chửa vào bắp thịt của lợn (liều dùng 10 đơn vị/1 kg thể trọng). Sau khoảng 2 - 3 ngày thì lợn nái sẽ bắt đầu động dục, lúc này nên phối giống cho heo. Nếu lần 1 không đậu thì tiếp tục cho phối lần 2, nếu đã qua 2 lần phối giống mà vẫn không đậu thì nên loại thải. Ngoài ra, có thể tiêm những chất kích thích như: Synthophylin, Progesteron... và tiêm hay cho ăn, uống các loại thuốc bổ trợ như A, D, E, B, C, B.complex theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc.

CÔNG NGHỆ MỚI NUÔI LỢN KHÉP KÍN:Trang trại chăn nuôi lợn của gia đình anh Nguyễn Văn Toán, xã Tân Châu (Khoái Châu, Hưng...
14/07/2021

CÔNG NGHỆ MỚI NUÔI LỢN KHÉP KÍN:
Trang trại chăn nuôi lợn của gia đình anh Nguyễn Văn Toán, xã Tân Châu (Khoái Châu, Hưng Yên) đã có được công nghệ này.

Anh Toán chia sẻ, anh từng chăn nuôi lợn khép kín có hệ thống máng ăn, vòi nước uống và tường làm mát tự động… Nhưng hệ thống quạt hút gió vẫn cần có người trực để điều tiết khi cần. Rất bất tiện khi người trực trại ở xa chuồng chăn nuôi lợn mà thời tiết có mưa, không kịp thời ngắt giảm tốc độ quạt thông gió, để tăng nhiệt độ chuồng nuôi.

Theo đó đàn lợn sẽ bị sốc nhiệt lạnh, gây phát sinh các bệnh về đường hô hấp, sau chuyển sang tiêu chảy, có thể chết cả đàn lợn con, lợn thịt. Với lợn nái đang chửa, bị lạnh đột ngột sẽ bị sảy thai hoặc chết lưu thai… Nên tỷ lệ rủi ro thất thoát trong chăn nuôi lợn vẫn còn khá cao.

Mọi bất cập nêu trên đã được khắc phục hoàn toàn kể từ khi anh Toán chuyển đổi thành công hệ thống cảm biến điện tự động hầm lò khai thác mỏ, thành hệ thống cảm biến điện tự động dùng cho trại lợn.

Hệ thống cảm biến điện tự động trại lợn vừa kết nối được với mạng viễn thông quốc gia, vừa kết nối với các thiết bị điều khiển chăn nuôi tự động trong trại lợn.

Cảm biến điện trại lợn hoạt động theo nguyên lý cảm ứng nhiệt. Khi thời tiết bên ngoài chuồng nuôi thay đổi (quá nóng hoặc quá lạnh), sẽ kéo theo sự thay đổi nhiệt độ, ẩm độ không khí bên trong chuồng lợn. Khi đó hệ thống cảm biến điện trong trại lợn sẽ tự động điều chỉnh tốc độ quay hoặc số lượng quạt hút gió hoạt động, đảm bảo cho nhiệt độ, ẩm độ không khí của chuồng nuôi luôn ổn định ở ngưỡng (đã cài đặt trước) thích hợp cho con lợn tăng trưởng.

Từ sau lắp đặt cảm biến điện tự động trong trại lợn, rủi ro dịch bệnh trên đàn lợn nuôi đã triệt tiêu căn bản. Người chăn nuôi không cần thường xuyên ở gần trại. Chỉ cần gửi tin nhắn KTND (kiểm tra nhiệt độ) qua điện thoại di động, là sau giây lát, hệ thống cảm biến điện đã cập nhật đủ các thông số nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió trong chuồng lợn… Rồi tự động nhắn tin tới gia chủ dù ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hay nước ngoài.

Để tiết giảm tối đa chi phí chăn nuôi, anh Toán còn tiến hành một số cải tiến khác:

- Thay đường ống cấp nước cho giàn tường làm mát bằng các vòi phun nước dạng sương, giúp tiết kiệm được 80% nhu cầu điện năng làm mát chuồng lợn so với kỹ thuật phổ biến hiện hành.

- Đồng bộ hệ thống chiếu sáng bởi bóng đèn Led (tiết kiệm điện) trong các hoạt động chăn nuôi và sinh hoạt gia đình.

- Đầu tư máy móc tự nghiền trộn thức ăn (ngô hạt đỏ, hạt đậu tương, bột cá nhạt, dầu thực vật, cám đậm đăc…) cho lợn. Giúp giảm chi phí chăn nuôi/1 đầu lợn thịt từ 120 - 150 nghìn đồng so với cho ăn cám công nghiệp mua từ các nhà máy.

- Chủ động nguồn con giống chất lượng tốt, giá thành hạ bằng nuôi sinh sản 70 con lợn nái ngoại.

- Xây hầm biogas xử lý chất thải và nâng cao ống thoát khí chuồng nuôi. Giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa nguy cơ phát sinh dịch bệnh hại lợn.

Gia đình anh Nguyễn Văn Toán thường xuyên nuôi 500 con lợn thịt, 70 lợn nái ngoại. Mỗi năm xuất chuồng hơn 100 tấn lợn hơi. Lãi ròng 1,5 - 1,7 tỷ đồng.

Kinh nghiệm của anh Nguyễn Văn Toán:

Các trại chăn nuôi lợn khép kín phổ biến hiện nay, trung bình chỉ lãi được 0,8 - 0,9 triệu đồng/đầu lợn/1 lứa. Nếu nuôi lợn khép kín chủ động con giống, tự phối trộn lấy thức ăn và điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi tự động, lợi nhuận sẽ đạt gấp đôi (1,5 - 1,7 triệu đồng/đầu lợn/1 lứa).

Chăn nuôi lợn khép kín vẫn phải tuân thủ chặt chẽ qui trình nuôi lợn an toàn sinh học như:

Vệ sinh chuồng trại ngày 2 - 3 lần.

Định kỳ 7 ngày/1 lần tiêu độc khử trùng chuồng trại bằng dung dịch Formol hoặc nước vôi trong.

Vacxin phòng ngừa dịch bệnh cho lợn đúng kỳ.

Hạn chế người lạ ra vào trại nuôi lợn và phải có máy phát điện dự phòng sự cố điện lưới.

Duy trì nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi lợn ở ngưỡng 27 ± 1-2oC và 75 ± 5%.

Kinh nghiệm nuôi vịt đẻChăm sóc vịt đẻQua quá trình theo dõi, giám sát và chỉ đạo mô hình, chúng tôi đưa ra một số lưu ý...
13/07/2021

Kinh nghiệm nuôi vịt đẻ

Chăm sóc vịt đẻ

Qua quá trình theo dõi, giám sát và chỉ đạo mô hình, chúng tôi đưa ra một số lưu ý về kĩ thuật để người nuôi tham khảo.

+ Về chuồng nuôi:

Dù nuôi vịt đẻ theo hình thức nuôi nhốt, hay chăn thả, cũng cần chuẩn bị chuồng nuôi vịt chắc chắn và cao ráo, bên trong chuồng ấm áp và thoáng. Có ao cho vịt bơi lội, có cống ra vào nước trong ao nuôi. Trước khi nhập vịt về nuôi cần khử trùng chuồng nuôi bằng cách rải vôi bột xung quanh chân tường chuồng nuôi, dùng thuốc sát trùng chuồng nuôi (như Hanmid, Hankon WS, Vimekon, Vime-protex…). Để trống chuồng nuôi trước khi nhập con giống về…

+ Về con giống:

Mua con giống tại các cơ sở uy tín như Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên thuộc Viện chăn nuôi; Cty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam… Người nuôi sẽ có giá cả hợp lý và con giống bảo đảm chất lượng, đúng mục đích nuôi.

+ Về thức ăn, nước uống:

Thức ăn cho vịt đẻ có hai dạng phổ biến, tùy theo điều kiện kinh tế và tính toán giá cả thị trường mà người nuôi có đầu tư phù hợp. Thứ nhất, cho vịt đẻ ăn hoàn toàn bằng cám công nghiệp: Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng...

Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn theo từng giai đoạn phát triển của vịt. Thứ hai, cho vịt đẻ ăn theo hướng bán công nghiệp: Dùng thức ăn viên hỗn hợp pha cùng thức ăn tự nhiên như thóc luộc, rau xanh, bèo, ốc, cá... Không nên thay hoàn toàn thức ăn cám viên vì thức ăn tự nhiên không đảm bảo dinh dưỡng cho vịt đẻ.

Có thể tham khảo pha theo công thức 70% cám viên + 30% thức ăn tự nhiên (ví dụ nuôi 100 con vịt đẻ tốn 20kg thức ăn/ngày, thì có 14kg cám viên (70%) + 6 kg thóc luộc hay ốc, cá…(30%); rau xanh ăn tự do khoảng 5 - 10 kg/ngày. Nếu là ốc bươu vàng thì đập vỏ trước khi cho vịt ăn).

Phải khống chế mức ăn hàng ngày vịt hậu bị cho đến khi vịt đẻ 30 - 50% mới cho ăn tự do để đảm bảo độ đồng đều của đàn vịt không quá gầy hay quá béo.

+ Thu và bảo quản trứng:

Vịt đẻ tập trung vào 2 - 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 - 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 - 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng đựng vào khay để nơi khô mát và tùy theo mục đích sử dụng trứng mà có cách bảo quản khác nhau.

+ Vệ sinh, thú y:

Người nuôi cần đảm bảo thức ăn không bị hết hạn và ôi thiu, dùng cám đúng chủng loại dành cho vịt đẻ, vệ sinh máng ăn uống hàng ngày và chuồng nuôi định kỳ hàng tuần, tháng.

Tiêm phòng: Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi. Tiêm phòng cho vịt 2 bệnh là Dịch tả vịt khi vịt được 15 ngày và Viêm gan vịt khi vịt được 21 ngày tuổi; Tiêm phòng Dịch tả vịt khi vịt được 45 ngày và Viêm gan khi vịt được 60 ngày; Tiêm phòng bệnh cúm H5N1 vào ngày thứ 70 và nhắc lại khi vịt đẻ được 100 ngày tuổi.

Nước uống hàng ngày cần bổ sung thêm chất điện giải, B-complex và kháng sinh (Amoxycilin, Colistin, Gentamycinlin và Tolysin) nhằm tăng sức đề kháng phòng bệnh đường ruột, hô hấp cho vịt.

* Lưu ý: Khi vịt đẻ người nuôi không nên sử dụng kháng sinh sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng trứng.

Hiện nay, tỷ lệ trâu, bò sinh sản mắc bệnh chậm sinh, vô sinh ngày càng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ n...
12/07/2021

Hiện nay, tỷ lệ trâu, bò sinh sản mắc bệnh chậm sinh, vô sinh ngày càng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ nguồn bán bê, sữa của người nuôi. Do vậy, cần tìm hiểu đúng nguyên nhân gây bệnh và đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.

Cơ quan sinh dục dị hình ở trâu, bò
Cơ quan sinh dục của trâu, bò bị dị hình hoặc phát triển không bình thường do một số các nguyên nhân như bẩm sinh hoặc do chế độ dinh dưỡng. Nếu là dị hình bẩm sinh cần loại thải luôn, không nên nuôi để phục vụ sinh sản. Ngoài ra, khi trâu, bò quá béo hoặc quá gầy có thể cũng ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản. Vì vậy, trâu bò sinh sản cần duy trì ở thể trạng bình thường. Nếu trâu, bò quá béo hoặc quá gầy cần thay đổi chế độ dinh dưỡng.

Một số trâu, bò sau nhiều lứa sinh sản, buồng trứng có thể teo lại. Khi đó, bò thường không động dục trong thời gian dài, hoặc động dục yếu, các giai đoạn không rõ ràng, kiểm tra thấy buồng trứng có kích thước bé hơn bình thường, không có nang trứng và thể vàng. Nguyên nhân do trâu, bò không được chăm sóc tốt, thiếu dinh dưỡng làm rối loạn quá trình tiết hormon kích thích sự rụng trứng. Do vậy, cần tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, bổ sung vào khẩu phần: protein, khoáng, Vitamin (A, E, D, B). Điều trị chứng thiểu năng buồng trứng ở bò rạ bằng cách tiêm hormon. Tuy nhiên, phác đồ điều trị nên có sự tư vấn của bác sĩ thú y.

Do viêm nhiễm
Trâu, bò bị viêm nhiễm thường là do sau khi sinh bị sót nhau, đường sinh sản bị tổn thương khi sinh đẻ. Đặc biệt, trâu bò càng béo, thai càng to thì khi đẻ càng khó, sót nhau và nguy cơ viêm nhiễm càng cao. Để khắc phục hiện tượng này trước hết cần vệ sinh chỗ chuồng trại sạch sẽ, đặc biệt là chỗ trâu, bò nằm, không cho bò khỏe tiếp xúc với bò ốm. Khi trâu, bò bị bệnh, sử dụng HanIodine 10% (hoặc lugol 1%) pha loãng 10 ml với 1 lít nước để thụt rửa tử cung hàng ngày. Sau đó, dùng viên đặt tử cung Han-V.T.C 1 – 2 viên/ngày. Điều trị 4 – 5 ngày, khỏi viêm, theo dõi động dục và phối giống. Cùng đó, bổ sung Selen và Vitamin E vào khẩu phần ăn.

Để phòng tránh hiện tượng bò bị viêm nhiễm cần chuẩn bị và chăm sóc tốt cho bò cái trước khi đẻ. Sau khi bò đẻ nên thụt rửa tử cung bằng dung dịch Riyanol hoặc Lugon. Trong trường hợp sót nhau, khó đẻ cần can thiệp, điều trị kịp thời, tích cực để sớm phục hồi chức năng sinh sản.

Thể vàng tồn lưu
Thông thường trứng không được thụ tinh thì thể vàng sẽ bị tiêu biến và con vật động dục trở lại, nhưng nếu thể vàng không tiêu biến mà tồn lưu qua nhiều chu kỳ tiếp theo làm trâu, bò không động dục trong thời gian dài gọi là thể vàng tồn lưu hay thể vàng bệnh lý. Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tường thể vàng tồn lưu ở bò nhưng chủ yếu do có những vật thể tồn tại trong tử cung (phôi/ thai chết, thai chết ngâm, thai gỗ, u nhầy, tử cung có mủ…).

Biện pháp khắc phục khi bò bị thể vàng tồn lưu: có thể dùng tay bóc thể vàng thông qua trực tràng, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Ngoài ra, dùng hormone sinh sản để điểu trị bệnh tồn lưu thể vàng ở trâu, bò như sau: Tiêm 2 ml Han-Prost và 2,5 ml Gonadorelin. Sau 7 ngày, tiêm 2,5 ml Gonadorelin. Sau đó, theo dõi động dục ở trâu bò để phối giống.

U nang nang trứng
Hiện tượng nang trứng không rụng mà lưu lại buồng trứng có đường kính > 2,5 cm gọi là u nang buồng trứng. U nang buồng trứng có thể tồn tại ở 2 dạng là u nang cường dục và u nang không động dục. Ở dạng cường dục, bò động dục liên tục và thường xuyên và một không có biểu hiện gì. Nguyên nhân gây bệnh u nang buồng trứng hiện nay chưa được xác định chính xác. Tuy nhiên, bệnh u nang buồng trứng thường phát hiện trong các trường hợp chế độ chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn không cân đối dinh dưỡng. Do vậy để phòng bệnh u nang buồng trứng cần kiểm soát thức ăn đảm bảo chất lượng, không bị nhiễm độc tố nấm mốc, cân bằng tỷ lệ Ca: P < 2.

Để điều trị u nang buồng trứng có thể tiêm Prostaglandin, liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc theo khuyến cáo của bác sĩ thú y. Hoặc có thể điều trị bằng kích thích tố progesteron, làm cân bằng hoocmon follculin trong cơ thể con vật, với liều dùng từ 25 mg đến 50 mg mỗi ngày hoặc hai ngày tiêm một lần.

Trâu, bò lưỡng tính
Thường xảy ra đối với bê, nghé cái khi sinh đôi cùng với bê, nghé đực làm giới tính của nó bị lưỡng tính. Khả năng vô sinh ở những con bê, nghé này khi lớn lên là trên 90% và hiện nay chưa có biện pháp can thiệp. Vì vậy, người chăn nuôi không nên nuôi những bê nghé này thành con sinh sản.

Trong chăn nuôi vỗ béo đàn gia súc, gia cầm là việc làm mà người chăn nuôi thường làm mỗi khi gần đến này xuất chuồng, đ...
11/07/2021

Trong chăn nuôi vỗ béo đàn gia súc, gia cầm là việc làm mà người chăn nuôi thường làm mỗi khi gần đến này xuất chuồng, để công tác vỗ béo đàn gia súc gia cầm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Chúng ta cần thực hiện tốt các yêu cầu sau đây:

1. Đối với đàn gia súc ăn cỏ như trâu, bò, ngựa

Những con đưa vào vỗ béo phải đạt độ tuổi từ 18 - 24 tháng tuổi trở lên. Thời gian vỗ béo 60 - 75 ngày là tối ưu. Do vậy, cần tính toán thời điểm giết mổ để tuyển chọn, tách riêng những con không sử dụng vào mục đích sinh sản, cày kéo, vắt sữa để tập trung vỗ béo.

Để vỗ béo, chúng ta cho chúng ăn đầy đủ (cho ăn tự do) thức ăn thô xanh chất lượng tốt (cỏ xanh, thức ăn ủ chua, cỏ khô, rơm khô...). Ngoài thức ăn thô xanh, nhất thiết phải cho chúng ăn thức ăn tinh (thức ăn hỗn hợp) với định mức 0,8 - 1,0 kg TĂ/100 kg P hơi. Khi cho ăn, thức ăn tinh phải cho ăn trước và nên cho ăn khô. Nếu không có thức ăn hỗn hợp do các nhà máy sản xuất thì bà con có thể mua thức ăn đậm đặc rồi phối trộn với các phụ phẩm nông nghiệp như hướng dẫn trên bao bì làm thức ăn tinh cho gia súc vỗ béo.

Một vấn đề cần chú ý là đối với gia súc vỗ béo phải được nuôi nhốt tại chuồng. Không được cho đi lao tác hoặc chăn thả tránh thất thoát năng lượng.

Vì nuôi nhốt tại chuồng nên bà con cần bố trí máng chứa thức ăn thô xanh, máng thức ăn tinh hợp lý để đảm bảo mỗi con tham gia vỗ béo đều nhận được khẩu phần ăn của nó.

2. Đối với đàn lợn

Tuổi giết thịt đối với lợn thường là 7- 8 tháng tuổi, tương tương với 70 - 80 kg đối với lợn F1, 100 - 110 kg đối với lợn ngoại vì ở độ tuổi và trọng lượng này tỷ lệ thịt nạc, hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn là cao nhất. Do vậy, tuỳ thuộc vào độ tuổi, trọng lượng và giống lợn chúng ta đang nuôi để xác định thời gian nuôi vỗ béo, thời gian giết thịt để đem lại hiệu quả cao.

Đối với lợn, cách tốt nhất để vỗ béo là cho ăn với khẩu phần tự do. Có nghĩa là lợn ăn được bao nhiêu thì chúng ta cho ăn bấy nhiêu. Tuy nhiên, không nên để thức ăn dư thừa quá lâu trong máng vừa gây mất vệ sinh vừa gây lãng phí thức ăn.

Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là trong chăn nuôi lợn, mỗi giai đoạn tuổi hoặc mỗi giống hoặc tuỳ theo trọng lượng thường có từng loại thức ăn riêng. Do đó bà con cần lựa chọn loại thức ăn cho phù hợp với giai đoạn của lợn để có được hiệu quả vỗ béo, hiệu quả kinh tế là cao nhất.

3. Đối với đàn gia cầm

Để phát huy tối đa khả năng cho thịt của các giống gia cầm. Chúng ta cần chú ý tới đặc điểm sinh trưởng phát triển của chúng để vỗ béo vì có rất nhiều giống khác nhau với khả năng tăng trọng khác nhau.

Đối với đàn gia cầm chuyên thịt thì chúng ta nuôi vỗ béo ngay từ đầu, nếu là đàn gia cầm giống loại thải thì chỉ cần vỗ béo trong thời gian từ 10 - 15 ngày.

Cách tốt nhất để vỗ béo đàn gia cầm nuôi thịt là cho chúng ăn khẩu phần tự do với loại thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng phù hợp với từng giống, từng giai đoạn tuổi.

Khi cho ăn thì nên cho ăn 3 - 4 lần/ngày để đảm bảo thức ăn luôn tươi mới từ đó kích thích chúng ăn được nhiều hơn.

4. Một số yêu cầu khác

Thời gian này là mùa đông nên chúng ta phải che chắn chuồng trại, giữ ấm cho vật nuôi.

Thường xuyên vệ sinh, quét dọn chuồng trại và vệ sinh phòng bệnh cho đàn gia súc trong thời gian nuôi vỗ béo.

Trước khi vỗ béo cần tẩy giun, sán, ngoại ký sinh trùng như ve, ghẻ, rận cho chúng bằng các loại thuốc chuyên dụng và theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Đối với gia súc đực (trâu, bò, ngựa, lợn) nên thiến trước khi vỗ béo để phát huy khả năng tăng trọng và đảm bảo chất lượng của thực phẩm khi giết thịt.

Một vấn đề rất đáng quan tâm là để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khoẻ cho người tiêu dùng. Tuyệt đối không được dùng các loại hormon tăng trưởng, thuốc kích thích tăng trọng trong vỗ béo gia súc gia cầm. Trước khi giết thịt 15 ngày không sử dụng bất kỳ một loại thuốc kháng sinh nào để điều trị hoặc cho gia súc ăn để tránh hiện tượng tồn dư kháng sinh, hoá chất độc hại trong thực phẩm.

Address

Nhà Máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Trung Hà Hanoi
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung Tâm Dinh Dưỡng Vật Nuôi greenfree posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share