Tiệm sách Totto-Chan / Totto-Chan Books

Tiệm sách Totto-Chan / Totto-Chan Books Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tiệm sách Totto-Chan / Totto-Chan Books, Book shop, Hanoi.

08/03/2023

Nguyễn Ngọc Tư | Khói trời lộng lẫy

Hình như đang là thực trạng.
19/09/2019

Hình như đang là thực trạng.

SỰ QUAN TÂM CÓ ĐIỀU KIỆN CỦA CHA MẸ

1. Thế nào là sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ?

Con cái đôi khi cảm thấy sự tôn trọng và tình yêu thương mà cha mẹ dành cho mình phụ thuộc vào việc chúng có đáp ứng được những kỳ vọng của cha mẹ hay không.

Trong các công trình nghiên cứu của Carl Rogers và sau đó là của Avi Assor, Guy Roth, cùng cộng sự của họ, trải nghiệm này được gọi là nhận thức về sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ.

Trong trải nghiệm này, con cái nhận ra rằng cha mẹ tìm cách xã hội hóa* chúng bằng cách tỏ ra tôn trọng hay yêu thương chúng tùy thuộc vào việc chúng có đạt được những kết quả mà cha mẹ đánh giá cao hay không hoặc thực hiện được những hành vi được cha mẹ kỳ vọng hay không.

Assor, Roth, và cộng sự còn phân biệt hai loại quan tâm có điều kiện là sự quan tâm tích cực có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện.

Trong trường hợp của sự quan tâm tích cực có điều kiện, con cái nhận thấy cha mẹ tỏ ra yêu thương và coi trọng nhiều hơn khi chúng đáp ứng các kỳ vọng của cha mẹ.

Còn trong trường hợp của sự quan tâm tiêu cực có điều kiện, con cái nhận thấy cha mẹ tỏ ra bớt yêu thương, bớt coi trọng khi chúng không đáp ứng được các kỳ vọng.

2. Hệ quả của sự quan tâm có điều kiện

Từ tiếp cận hành vi, sự quan tâm có điều kiện có thể phản ánh việc thực hiện cơ chế thưởng phạt với kỳ vọng rằng sẽ khiến cho con cái phân biệt được giữa hành vi được mong muốn và hành vi không được mong muốn, từ đó tăng cường tần suất thực hiện các hành vi được kỳ vọng.

Mặc dù vậy, các nhà tâm lý học khác có những quan điểm khác biệt về sự quan tâm có điều kiện. Rogers cho rằng sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ làm suy giảm lòng tự trọng của con cái và ngăn cản sự khám phá bản thân của chúng.

Các nhà lý thuyết quan hệ đối tượng cho rằng khi con cái học được rằng chúng được yêu thương một cách có điều kiện sẽ hành xử theo cách mà chúng tin là sẽ đem lại thứ tình yêu mà chúng mong muốn. Hành vi mang tính công cụ tiếp được thực hiện nhưng sự thỏa mãn mà con cái trải nghiệm mỗi khi chúng thành công trong việc thực hiện những hành vi ấy sẽ trôi qua nhanh chóng bởi vì những hành vi ấy không bao giờ đem lại cho chúng sự quan tâm vô điều kiện mà chúng thực sự mong mỏi.

2.1. Sự nội hóa mang tính phóng nội các kỳ vọng của cha mẹ

Theo lý thuyết tự quyết, khi con cái nội hóa một cách phóng nội các hành vi và mục tiêu mà cha mẹ mong muốn thì chúng sẽ thực hiện những hành vi và mục tiêu ấy dù cho không thực sự chấp nhận.

Lý do mà những hành vi và mục tiêu được nội hóa đó là chúng ngăn chặn việc mất đi sự quan tâm của cha mẹ và tăng cường tình cảm và sự coi trọng của cha mẹ.

Hệ quả là, hành vi bị kiểm soát bởi mong muốn né tránh cảm giác vô giá trị hay xấu hổ và/hoặc bởi nỗ lực để cảm thấy xứng đáng được yêu thương và xứng đáng được coi trọng.

Áp lực né tránh mất mát sự quan tâm và đạt dược nhiều hơn sự tự trọng khiến cho hành vi và những mục tiêu xuất phát từ quá trình nội hóa mang tính phóng nội gây ra cảm giác bị kiểm soát và không được tự chủ.

Hơn thế nữa, khi con người nghĩ về hay thực hiện những hành vi và mục tiêu đó, họ sẽ cảm thấy có một sự ép buộc bên trong và một áp lực phản ánh động lực phóng nội. Đó là cái cảm giác rằng có một điều gì đó bên trong bản thân buộc mình phải làm một điều gì đó mà mình không thực sự mong muốn.

Nghiên cứu thực chứng của Assor, Roth, Bart Soenens và Maarten Vansteenkiste và các đồng nghiệp đã cung cấp rất nhiều bắng chứng cho mối liên hệ giữa cảm nhận về sự quan tâm có điều kiện và sự nội hóa mang tính phóng nội về những kỳ vọng của phụ huynh được thúc đẩy bởi sự quan tâm có điều kiện.

Quan trọng hơn nữa, mối liên hệ này được phát hiện không chỉ trong những bối cảnh văn hóa coi trọng giá trị tự chủ mà còn trong các nền văn hóa đánh giá cao sự phụ thuộc và tuân thủ đối với quyền lực của cha mẹ (ví dụ, Bedouin ở Israel).

Chẳng hạn, những học sinh nhận thấy sự quan tâm của cha mẹ phụ thuộc vào những thành công trong học tập, thành tích trong thể thao, hành vi ủng hộ xã hội hoặc sự dồn nén những cảm xúc tiêu cực của mình báo cáo rằng cảm thấy bị ép buộc phải hành động theo cách mà cha mẹ coi trọng. Một mẫu hình tương tự cũng được tìm thấy trong lĩnh vực tôn giáo.

2.2. Thực hiện những hành vi được thúc đẩy bởi sự quan tâm có điều kiện

Khi một giá trị mà cha mẹ coi trọng được nội hóa, chúng ta thường kỳ vọng rằng con cái sẽ thực hiện những hành vi phù hợp với giá trị này ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, cảm nhận áp lực, lo lắng và mâu thuẫn đi kèm với giá trị phóng nội có xu hướng dẫn đến việc thực hiện một cách có giới hạn, bề mặt, cứng nhắc và thiếu sáng tạo các hành vi mà cha mẹ coi trọng.

Sự lo lắng có thể khiến con cái bám chặt vào những lối mòn đã biết để thể hiện kiến thức thay vì nắm bắt cơ hội để tìm ra các phương pháp sáng tạo mà chúng chưa từng thử trước đây. Sự mâu thuẫn trong trải nghiệm về sự quan tâm có điều kiện, trong tiềm thức, cũng có thể làm suy yếu động lực hành động.

Việc cha mẹ sử dụng sự quan tâm có điều kiện để thúc đẩy con cái học tập chăm chỉ ở trường được nghiên cứu cho thấy là có liên quan tới việc con cái học tập theo hướng tập trung vào điểm số thay vì học hỏi để khám phá, mở mang đầu óc. Những học sinh này thường chỉ tập trung vào những kiến thức sẽ có trong bài kiểm tra thay vì hướng tới những kiến thức mới mẻ.

Tương tự, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ dựa trên việc con cái có thực hiện hành vi giúp đỡ người khác hay không khiến cho con cái thực hiện hành vi này theo cách thức áp đặt trong đó chúng giúp đỡ người khác kể cả khi họ không mong muốn được giúp đỡ.

2.3. Thiếu lành mạnh về tâm lý và sự dao động trong lòng tự trọng.

Trải nghiệm về sự quan tâm có điều kiện có thể khiến cho lòng tự trọng của con cái trở nên phụ thuộc vào việc chúng có đáp ứng được các kỳ vọng của cha mẹ hay không, từ đó dẫn tới lòng tự trọng bất ổn.

Nghiên cứu cho thấy những sinh viên nhận được sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ thường trải nghiệm cảm giác xấu hổ và vô giá trị sau mỗi lần thất bại nhưng lại dễ dàng trở nên tự cao tự đại sao những thành công. Sự quan tâm có điều kiện cũng có liên quan tới lo âu và trầm cảm.

2.4. Sự giận dữ và oán giận đối với cha mẹ

Việc cha mẹ sử dụng sự quan tâm có điều kiện để tạo áp lực buộc con cái hành động theo những cách mà cha mẹ mong muốn có thể tạo ra những cảm nhận tiêu cực ở con cái đối với cha mẹ. Cụ thể hơn, những áp lực như vậy được nghiên cứu cho thấy là có liên quan tới sự giận dữ và oán giận đối với cha mẹ bởi vì áp lực ấy làm suy giảm cảm nhận về sự tự chủ con con cái cũng như cho thấy rằng cha mẹ không tin tưởng vào chúng, và để cho chúng được hành động dựa trên sự tự do lựa chọn của chúng.

3. Sự truyền lại xuyên thế hệ của sự quan tâm có điều kiện

Những người nhớ rằng cha mẹ đã sử dụng sự quan tâm có điều kiện như là một cách để xã hội hóa chúng có xu hướng thực hiện lại cách nuôi dạy con này đối với con cái của mình. Từ đó, tác động tiêu cực của sự quan tâm có điều kiện được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

4. Nhân cách thúc đẩy việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện

Lòng tự trọng có điều kiện là cảm nhận rằng lòng tự trọng không ổn định và phụ thuộc lớn vào những thành tựu mà một người đạt được. Cha mẹ có lòng tự trọng có điều kiện có xu hướng sử dụng sự quan tâm có điều kiện để tạo áp lực cho con cái thực hiện những hành vi sẽ giúp cha mẹ tăng cường lòng tự trọng.

5. Bản chất tiêu cực của cách nuôi dạy có có vẻ tích cực

Sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ bao gồm cả sự quan tâm tiêu cực và tích cực có điều kiện. Sự quan tâm tiêu cực có điều kiện được nhiều chuyên gia coi là không lành mạnh nhưng vẫn còn có nhiều ý kiến tranh cãi về sự quan tâm tích cực có điều kiện bởi vì cách nuôi dạy con này là tỏ ra quan tâm hơn tới con cái khi chúng vâng lời.

Mặc dù vậy, nghiên cứu cho thấy rằng sự quan tâm tích cực có điều kiện cũng có hại, mặc dù nó trông có vẻ như lành mạnh. Theo đó, sự quan tâm tích cực có điều kiện có liên quan tới sự nội hóa mang tính phóng nội các kỳ vọng của cha mẹ, với việc đầu tư và thực hiện một cách quá mức, cứng nhắc các hành vi mà cha mẹ coi trọng.

Tiểu kết

Việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện như một cách thức xã hội hóa có thể thúc đẩy các hành vi được mong muốn ở con cái, nhưng phương pháp này cùng đòi hỏi cha mẹ phải trả những cái giá rất đắt về mặt tâm lý của con cái.

Những người ủng hộ việc sử dụng sự quan tâm điều kiện cho rằng những hệ quả này sẽ biến mất khi con cái lớn lên. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại không ủng hộ cho quan điểm này.

Mặc dù việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện có thể là một cách xã hội hóa tương đối thuận tiện, các chi phí tâm lý và quan hệ tiêu cực liên quan đến nó gợi ý rằng cha mẹ nên áp dụng những phương pháp nuôi dạy con mang tính ủng hộ sự tự chủ và bớt kiểm soát hơn.

Nguồn: Assor, A. (2018). Parental Conditional Regard. In M. H. Bornstein (2018). The SAGE Encyclopedia of Lifespan Human Development. Thousand Oaks: SAGE Publications, Inc.
--------------
Kiến Minh dịch
Khám Phá Tâm Lý Học
Vietnam Rogerian Group

Tranh: Brian Rea

*Xã hội hóa: Quá trình giúp các cá nhân tiếp nhận những chuẩn mực, giá trị, niềm tin của xã hội

SỰ QUAN TÂM CÓ ĐIỀU KIỆN CỦA CHA MẸ1. Thế nào là sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ?Con cái đôi khi cảm thấy sự tôn trọ...
19/09/2019

SỰ QUAN TÂM CÓ ĐIỀU KIỆN CỦA CHA MẸ

1. Thế nào là sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ?

Con cái đôi khi cảm thấy sự tôn trọng và tình yêu thương mà cha mẹ dành cho mình phụ thuộc vào việc chúng có đáp ứng được những kỳ vọng của cha mẹ hay không.

Trong các công trình nghiên cứu của Carl Rogers và sau đó là của Avi Assor, Guy Roth, cùng cộng sự của họ, trải nghiệm này được gọi là nhận thức về sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ.

Trong trải nghiệm này, con cái nhận ra rằng cha mẹ tìm cách xã hội hóa* chúng bằng cách tỏ ra tôn trọng hay yêu thương chúng tùy thuộc vào việc chúng có đạt được những kết quả mà cha mẹ đánh giá cao hay không hoặc thực hiện được những hành vi được cha mẹ kỳ vọng hay không.

Assor, Roth, và cộng sự còn phân biệt hai loại quan tâm có điều kiện là sự quan tâm tích cực có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện.

Trong trường hợp của sự quan tâm tích cực có điều kiện, con cái nhận thấy cha mẹ tỏ ra yêu thương và coi trọng nhiều hơn khi chúng đáp ứng các kỳ vọng của cha mẹ.

Còn trong trường hợp của sự quan tâm tiêu cực có điều kiện, con cái nhận thấy cha mẹ tỏ ra bớt yêu thương, bớt coi trọng khi chúng không đáp ứng được các kỳ vọng.

2. Hệ quả của sự quan tâm có điều kiện

Từ tiếp cận hành vi, sự quan tâm có điều kiện có thể phản ánh việc thực hiện cơ chế thưởng phạt với kỳ vọng rằng sẽ khiến cho con cái phân biệt được giữa hành vi được mong muốn và hành vi không được mong muốn, từ đó tăng cường tần suất thực hiện các hành vi được kỳ vọng.

Mặc dù vậy, các nhà tâm lý học khác có những quan điểm khác biệt về sự quan tâm có điều kiện. Rogers cho rằng sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ làm suy giảm lòng tự trọng của con cái và ngăn cản sự khám phá bản thân của chúng.

Các nhà lý thuyết quan hệ đối tượng cho rằng khi con cái học được rằng chúng được yêu thương một cách có điều kiện sẽ hành xử theo cách mà chúng tin là sẽ đem lại thứ tình yêu mà chúng mong muốn. Hành vi mang tính công cụ tiếp được thực hiện nhưng sự thỏa mãn mà con cái trải nghiệm mỗi khi chúng thành công trong việc thực hiện những hành vi ấy sẽ trôi qua nhanh chóng bởi vì những hành vi ấy không bao giờ đem lại cho chúng sự quan tâm vô điều kiện mà chúng thực sự mong mỏi.

2.1. Sự nội hóa mang tính phóng nội các kỳ vọng của cha mẹ

Theo lý thuyết tự quyết, khi con cái nội hóa một cách phóng nội các hành vi và mục tiêu mà cha mẹ mong muốn thì chúng sẽ thực hiện những hành vi và mục tiêu ấy dù cho không thực sự chấp nhận.

Lý do mà những hành vi và mục tiêu được nội hóa đó là chúng ngăn chặn việc mất đi sự quan tâm của cha mẹ và tăng cường tình cảm và sự coi trọng của cha mẹ.

Hệ quả là, hành vi bị kiểm soát bởi mong muốn né tránh cảm giác vô giá trị hay xấu hổ và/hoặc bởi nỗ lực để cảm thấy xứng đáng được yêu thương và xứng đáng được coi trọng.

Áp lực né tránh mất mát sự quan tâm và đạt dược nhiều hơn sự tự trọng khiến cho hành vi và những mục tiêu xuất phát từ quá trình nội hóa mang tính phóng nội gây ra cảm giác bị kiểm soát và không được tự chủ.

Hơn thế nữa, khi con người nghĩ về hay thực hiện những hành vi và mục tiêu đó, họ sẽ cảm thấy có một sự ép buộc bên trong và một áp lực phản ánh động lực phóng nội. Đó là cái cảm giác rằng có một điều gì đó bên trong bản thân buộc mình phải làm một điều gì đó mà mình không thực sự mong muốn.

Nghiên cứu thực chứng của Assor, Roth, Bart Soenens và Maarten Vansteenkiste và các đồng nghiệp đã cung cấp rất nhiều bắng chứng cho mối liên hệ giữa cảm nhận về sự quan tâm có điều kiện và sự nội hóa mang tính phóng nội về những kỳ vọng của phụ huynh được thúc đẩy bởi sự quan tâm có điều kiện.

Quan trọng hơn nữa, mối liên hệ này được phát hiện không chỉ trong những bối cảnh văn hóa coi trọng giá trị tự chủ mà còn trong các nền văn hóa đánh giá cao sự phụ thuộc và tuân thủ đối với quyền lực của cha mẹ (ví dụ, Bedouin ở Israel).

Chẳng hạn, những học sinh nhận thấy sự quan tâm của cha mẹ phụ thuộc vào những thành công trong học tập, thành tích trong thể thao, hành vi ủng hộ xã hội hoặc sự dồn nén những cảm xúc tiêu cực của mình báo cáo rằng cảm thấy bị ép buộc phải hành động theo cách mà cha mẹ coi trọng. Một mẫu hình tương tự cũng được tìm thấy trong lĩnh vực tôn giáo.

2.2. Thực hiện những hành vi được thúc đẩy bởi sự quan tâm có điều kiện

Khi một giá trị mà cha mẹ coi trọng được nội hóa, chúng ta thường kỳ vọng rằng con cái sẽ thực hiện những hành vi phù hợp với giá trị này ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, cảm nhận áp lực, lo lắng và mâu thuẫn đi kèm với giá trị phóng nội có xu hướng dẫn đến việc thực hiện một cách có giới hạn, bề mặt, cứng nhắc và thiếu sáng tạo các hành vi mà cha mẹ coi trọng.

Sự lo lắng có thể khiến con cái bám chặt vào những lối mòn đã biết để thể hiện kiến thức thay vì nắm bắt cơ hội để tìm ra các phương pháp sáng tạo mà chúng chưa từng thử trước đây. Sự mâu thuẫn trong trải nghiệm về sự quan tâm có điều kiện, trong tiềm thức, cũng có thể làm suy yếu động lực hành động.

Việc cha mẹ sử dụng sự quan tâm có điều kiện để thúc đẩy con cái học tập chăm chỉ ở trường được nghiên cứu cho thấy là có liên quan tới việc con cái học tập theo hướng tập trung vào điểm số thay vì học hỏi để khám phá, mở mang đầu óc. Những học sinh này thường chỉ tập trung vào những kiến thức sẽ có trong bài kiểm tra thay vì hướng tới những kiến thức mới mẻ.

Tương tự, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ dựa trên việc con cái có thực hiện hành vi giúp đỡ người khác hay không khiến cho con cái thực hiện hành vi này theo cách thức áp đặt trong đó chúng giúp đỡ người khác kể cả khi họ không mong muốn được giúp đỡ.

2.3. Thiếu lành mạnh về tâm lý và sự dao động trong lòng tự trọng.

Trải nghiệm về sự quan tâm có điều kiện có thể khiến cho lòng tự trọng của con cái trở nên phụ thuộc vào việc chúng có đáp ứng được các kỳ vọng của cha mẹ hay không, từ đó dẫn tới lòng tự trọng bất ổn.

Nghiên cứu cho thấy những sinh viên nhận được sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ thường trải nghiệm cảm giác xấu hổ và vô giá trị sau mỗi lần thất bại nhưng lại dễ dàng trở nên tự cao tự đại sao những thành công. Sự quan tâm có điều kiện cũng có liên quan tới lo âu và trầm cảm.

2.4. Sự giận dữ và oán giận đối với cha mẹ

Việc cha mẹ sử dụng sự quan tâm có điều kiện để tạo áp lực buộc con cái hành động theo những cách mà cha mẹ mong muốn có thể tạo ra những cảm nhận tiêu cực ở con cái đối với cha mẹ. Cụ thể hơn, những áp lực như vậy được nghiên cứu cho thấy là có liên quan tới sự giận dữ và oán giận đối với cha mẹ bởi vì áp lực ấy làm suy giảm cảm nhận về sự tự chủ con con cái cũng như cho thấy rằng cha mẹ không tin tưởng vào chúng, và để cho chúng được hành động dựa trên sự tự do lựa chọn của chúng.

3. Sự truyền lại xuyên thế hệ của sự quan tâm có điều kiện

Những người nhớ rằng cha mẹ đã sử dụng sự quan tâm có điều kiện như là một cách để xã hội hóa chúng có xu hướng thực hiện lại cách nuôi dạy con này đối với con cái của mình. Từ đó, tác động tiêu cực của sự quan tâm có điều kiện được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

4. Nhân cách thúc đẩy việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện

Lòng tự trọng có điều kiện là cảm nhận rằng lòng tự trọng không ổn định và phụ thuộc lớn vào những thành tựu mà một người đạt được. Cha mẹ có lòng tự trọng có điều kiện có xu hướng sử dụng sự quan tâm có điều kiện để tạo áp lực cho con cái thực hiện những hành vi sẽ giúp cha mẹ tăng cường lòng tự trọng.

5. Bản chất tiêu cực của cách nuôi dạy có có vẻ tích cực

Sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ bao gồm cả sự quan tâm tiêu cực và tích cực có điều kiện. Sự quan tâm tiêu cực có điều kiện được nhiều chuyên gia coi là không lành mạnh nhưng vẫn còn có nhiều ý kiến tranh cãi về sự quan tâm tích cực có điều kiện bởi vì cách nuôi dạy con này là tỏ ra quan tâm hơn tới con cái khi chúng vâng lời.

Mặc dù vậy, nghiên cứu cho thấy rằng sự quan tâm tích cực có điều kiện cũng có hại, mặc dù nó trông có vẻ như lành mạnh. Theo đó, sự quan tâm tích cực có điều kiện có liên quan tới sự nội hóa mang tính phóng nội các kỳ vọng của cha mẹ, với việc đầu tư và thực hiện một cách quá mức, cứng nhắc các hành vi mà cha mẹ coi trọng.

Tiểu kết

Việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện như một cách thức xã hội hóa có thể thúc đẩy các hành vi được mong muốn ở con cái, nhưng phương pháp này cùng đòi hỏi cha mẹ phải trả những cái giá rất đắt về mặt tâm lý của con cái.

Những người ủng hộ việc sử dụng sự quan tâm điều kiện cho rằng những hệ quả này sẽ biến mất khi con cái lớn lên. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại không ủng hộ cho quan điểm này.

Mặc dù việc sử dụng sự quan tâm có điều kiện có thể là một cách xã hội hóa tương đối thuận tiện, các chi phí tâm lý và quan hệ tiêu cực liên quan đến nó gợi ý rằng cha mẹ nên áp dụng những phương pháp nuôi dạy con mang tính ủng hộ sự tự chủ và bớt kiểm soát hơn.

Nguồn: Assor, A. (2018). Parental Conditional Regard. In M. H. Bornstein (2018). The SAGE Encyclopedia of Lifespan Human Development. Thousand Oaks: SAGE Publications, Inc.
--------------
Kiến Minh dịch
Khám Phá Tâm Lý Học
Vietnam Rogerian Group

Tranh: Brian Rea

*Xã hội hóa: Quá trình giúp các cá nhân tiếp nhận những chuẩn mực, giá trị, niềm tin của xã hội

KHI TÌNH YÊU CỦA CHA MẸ LÀ MỆNH LỆNH...Hơn 50 năm trước, nhà tâm lý học Carl Rogers đã từng nói chỉ yêu thương con cái t...
19/09/2019

KHI TÌNH YÊU CỦA CHA MẸ LÀ MỆNH LỆNH...

Hơn 50 năm trước, nhà tâm lý học Carl Rogers đã từng nói chỉ yêu thương con cái thôi là chưa đủ. Ông nói chúng ta cần phải yêu thương con cái chúng ta một cách vô điều kiện bởi con người chúng, thay vì những gì mà chúng làm.

Với tư cách là một người cha, tôi hiểu đây là một thử thách, và giờ đây nó còn thách thức hơn khi phần lớn những lời khuyên mà chúng ta nhận được lại hoàn toàn trái ngược.

Trên thực tế, người ta cho chúng ta vô số những mẹo nuôi dạy con cái theo kiểu điều kiện hóa, và thường đi theo một trong hai hướng. Hoặc là thể hiện nhiều tình cảm hơn khi con cái chúng ta trở nên ngoan ngoãn hoặc là rút lại những cử chỉ yêu thương khi chúng trở nên khó bảo.

Người dẫn chương trình Phil McGraw viết trong cuốn “Gia đình là trên hết” (Free Press, 2004) rằng những điều trẻ cần hay cảm thấy thích thú chỉ nên được đáp ứng một cách có chọn lọc, thông qua việc ban tặng hoặc rút lại các phần thưởng để chúng “cư xử như bạn mong muốn”. Và ông cũng nói thêm rằng “một trong những loại tiền tệ có sức mạnh to lớn nhất đối với một đứa trẻ chính là sự chấp nhận và tán thành của cha mẹ chúng”.

Tương tự, Jo Frost trong chương trình “Supernanny”, trong cuốn sách cùng tên của mình (Hyperion, 2005) cũng nói rằng “Phần thưởng lớn nhất chính là sự quan tâm, trân trọng và yêu thương”, và những thứ này cần được giữ lại “khi đứa trẻ cư xử không đúng mực cho tới khi trẻ biết nói lời xin lỗi”. Chỉ cho đến khi đó thì tình yêu thương mới được trở lại.

Nuôi dạy con theo lối điều kiện hóa không chỉ giới hạn ở những bậc cha mẹ độc đoán truyền thống. Có những cha mẹ chưa từng nghĩ tới việc tét đít con mình lại chọn hình thức cách ly/cô lập để đưa con vào quy củ - một chiến thuật mà chúng ta thường được biết đến dưới tên gọi “hết giờ” (*time-out: rút ngắn thời gian chơi hoặc tham gia các hoạt động yêu thích của trẻ). Ngược lại, “củng cố tích cực” dạy cho trẻ rằng chúng chỉ được yêu thương và đáng được yêu thương khi chúng làm bất cứ điều gì mà chúng ta cho là “việc làm đúng đắn”.

Điều này đặt ra một khả năng đó là vấn đề với lời khen không nằm ở chỗ nó được đưa ra sai cách, hay được đưa ra một cách quá dễ dàng, như những người theo phái bảo thủ đã quả quyết khẳng định. Đúng hơn, vấn đề nằm ở chỗ lời khen chỉ là một hình thức khác để kiểm soát trẻ, tương tự như trừng phạt. Thông điệp chính của mọi hình thức nuôi dạy theo kiểu điều kiện hóa chính là đứa trẻ phải tự mình dành lấy tình yêu của cha mẹ. Một chế độ yêu thương thường xuyên bị hạn chế, như lời cảnh báo của Rogers, sau cùng sẽ dẫn đến việc trẻ cần tới một nhà trị liệu mang lại cho chúng sự chấp nhận vô điều kiện mà chúng đã không thể có được.

Nhưng những gì Rogers nói với chúng ta liệu có thực sự đúng? Trước khi vứt bỏ những hình thức kỷ luật vẫn đang thịnh hành, tốt hơn là chúng ta nên có một vài bằng chứng cụ thể.

Vào năm 2004, hai nhà nghiên cứu người Israell, Avi Assor và Guy Roth, cùng với Edward L. Deci, một chuyên gia hàng đầu ở Mỹ về tâm lý học động lực, tiến hành một khảo sát với hơn 100 sinh viên để xem liệu tình yêu mà họ nhận được từ cha mẹ có phụ thuộc vào thành tích học tập của họ ở trường hay không? vào mức độ chăm chỉ rèn luyện thể thao? vào sự chu đáo đối với người khác? hay vào khả năng dồn nén những cảm xúc như giận dữ hay lo sợ?

Kết quả cho thấy những đứa trẻ nhận được sự chấp nhận có điều kiện, trên thực tế có xu hướng làm theo những gì cha mẹ mong muốn. Nhưng để có được sự phục tùng đó, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt. Trước tiên là con cái có xu hướng oán hận hoặc không yêu thích cha mẹ mình. Thứ hai là chúng cũng nhìn nhận rằng những việc mà mình làm thường là do “áp lực mạnh mẽ bên trong” hơn là do “một sự tự do lựa chọn thực sự”. Hơn nữa, niềm hạnh phúc mà những đứa trẻ này cảm nhận khi thành công ở một lĩnh vực nào đó thường không kéo dài, và chúng thường cảm thấy tội lỗi và hổ thẹn.

Trong một nghiên cứu, tiến sĩ Assor và các cộng sự đã phỏng vấn những bà mẹ có con ở độ tuổi trưởng thành. Ngay cả với thế hệ này, việc nuôi dạy theo lối điều kiện hóa cũng cho thấy những tác hại của nó. Các bà mẹ này khi còn là những đứa trẻ từng cảm thấy rằng họ chỉ được yêu thương khi nào mình đáp ứng được những kỳ vọng của cha mẹ giờ đây cảm thấy mình kém giá trị khi đã trưởng thành. Nhưng ngay cả những tác động tiêu cực này cũng không làm thay đổi xu hướng yêu thương có điều kiện của những bà mẹ này đối với con mình.

Vào tháng 7 vừa qua, những nhà nghiên cứu trên, cùng với 2 trong số các cộng sự của Deci tại đại học Rochester, đã xuất bản 2 ấn phẩm tái bản và mở rộng của nghiên cứu năm 2004. Lần này, khách thể nghiên cứu là các học sinh khối 9, và có một sự phân loại kỹ lưỡng giữa việc chấp nhận nhiều hơn và việc chấp nhận ít hơn khi trẻ làm theo những điều cha mẹ mong muốn,

Các nghiên cứu này cho thấy cách nuôi dạy kiểu điều kiện hóa tích cực hay điều kiện hóa tiêu cực cũng đều có hại, nhưng theo những cách khác nhau. Điều kiện hóa tích cực đôi khi thành công trong việc cải thiện nỗ lực học tập của trẻ, nhưng đổi lại là những cảm xúc không lành mạnh về “sự miễn cưỡng nội tâm”. Điều kiện hóa tiêu cực còn không hề cho thấy tính hiệu quả dù ngắn hạn, mà chỉ làm tăng những cảm xúc tiêu cực của trẻ với cha mẹ.

Điều mà những nghiên cứu trên đã chỉ ra cho chúng ta thấy, nếu chúng ta thực sự muốn thấy, là việc tuyên dương trẻ khi trẻ làm đúng một điều gì đó không phải một sự thay thế hiệu quả cho việc hạn chế hay trừng phạt khi trẻ làm sai. Cả hai đều là những hình thức nuôi dạy theo kiểu điều kiện hóa và đều phản tác dụng.

Nhà tâm lý học trẻ em Bruno Bettelheim, người đã dễ dàng thừa nhận rằng các kiểu điều kiện hóa tiêu cực như time-out (hết giờ) có thể gây ra "cảm giác lo âu sâu sắc", cuối cùng vẫn tán thành nó với lý do rằng "khi lời nói của bạn là không đủ thì việc đe dọa lấy đi tình yêu thương và sự quan tâm là âm thanh duy nhất hiệu quả đề nói với đứa trẻ rằng tốt hơn hết là nó nên tuân theo yêu cầu của chúng ta."

Nhưng dữ liệu cho thấy việc lấy đi tình yêu thương đặc biệt không hiệu quả trong việc tuân thủ, và còn không hiệu quả hơn nữa trong việc phát triển đạo đức. Ngay cả khi chúng ta thành công trong việc khiến cho đứa trẻ vâng lời chúng ta bằng sự củng cố tích cực thì liệu có đáng để chúng ta đánh đổi nó bằng những tổn thương tâm lý lâu dài? Liệu tình yêu thương của cha mẹ có nên được sử dụng như là một công cụ để kiểm soát đứa trẻ?

Ngay cả khi chúng ta thành công trong việc khiến cho đứa trẻ vâng lời chúng ta bằng sự củng cố tích cực thì liệu có đáng để chúng ta đánh đổi nó bằng những tổn thương tâm lý lâu dài?

Albert Bandura, cha đẻ của nhánh tâm lý học được biết đến với tên gọi lý thuyết học tập xã hội, khẳng định rằng tình yêu thương vô điều kiện "có thể khiến đứa trẻ mất phương hướng và trở nên không thể chấp nhận được" - một khẳng định hoàn toàn không được ủng hộ bởi các nghiên cứu thực tiễn. Ý tưởng rằng đứa trẻ được chấp nhận bởi con người chúng sẽ mất phương hướng hay chống đối là một chi tiết gợi ý về cái nhìn tăm tối về bản chất của con người nơi những người đưa ra lời cảnh báo ấy.

Trên thực tế, theo một tập hợp dữ liệu đồ sộ của Tiến sĩ Deci và những người khác, sự chấp nhận vô điều kiện của cha mẹ cũng như thầy cô nên được đi kèm với "sự ủng hộ tính tự chủ": giải thích lý do cho những yêu cầu, tối đa hóa cơ hội để trẻ tham gia vào việc ra quyết định, khuyến khích thay vì thao túng, và tích cực tưởng tượng xem mọi thứ được nhìn nhận như thế nào qua góc nhìn của trẻ.

Yếu tố cuối cùng trên đây rất quan trọng đối với việc nuôi dạy con một cách vô điều kiện. Phần lớn chúng ta sẽ phản đối rằng tất nhiên là chúng ta yêu con cái của chúng ta mà không có bất cứ một ràng buộc nào. Nhưng điều thực sự quan trọng là những gì mà đứa trẻ nhận thấy từ góc nhìn của nó - liệu chúng có cảm thấy được yêu thương khi chúng làm rối tung mọi việc hay là thất bại hay không?

Nhưng điều thực sự quan trọng là những gì mà đứa trẻ nhận thấy từ góc nhìn của nó - liệu chúng có cảm thấy được yêu thương khi chúng làm rối tung mọi việc hay là thất bại hay không?

Rogers không nói ra điều này, nhưng tôi cá rằng ông sẽ rất hạnh phúc khi thấy nhu cầu đối với các nhà tâm lý trị liệu giảm xuống nếu như điều đó đồng nghĩa rằng ngày càng có nhiều người trưởng thành với cảm nhận rằng mình được chấp nhận một cách vô điều kiện.

Alfie Kohn
The New York Times

Đinh Thị Hồng Nhung &
Kiến Minh Nguyễn Ngọc Quang dịch
Vietnam Rogerian Group
____
Alfie Kohn là tác giả của 11 cuốn sách về hành vi con người và giáo dục, bao gồm "nuôi dạy con vô điều kiện" và "Trừng phạt bằng phần thưởng."
(Nguồn: Khám phá Tâm lý học)

10 LỢI ÍCH CỦA VIỆC THƯỜNG XUYÊN KỂ CHUYỆN CHO BÉ1. Dạy trẻ về đạo đứcTrẻ con trên khắp thế giới thích nghe kể chuyện. C...
19/09/2019

10 LỢI ÍCH CỦA VIỆC THƯỜNG XUYÊN KỂ CHUYỆN CHO BÉ

1. Dạy trẻ về đạo đức

Trẻ con trên khắp thế giới thích nghe kể chuyện. Chúng muốn biết nhiều hơn về nhân vật yêu thích và thường bắt chước theo họ. Nếu câu chuyện đi kèm thông điệp ý nghĩa, bạn có thể khắc sâu vào đầu con từ sớm những phẩm chất tốt như lòng can đảm, sự thật thà, trí thông minh...

2. Ý thức về nguồn gốc và văn hóa

Những câu chuyện về tuổi thơ của bạn giúp con cảm thấy gần gũi hơn với truyền thống, văn hóa của dân tộc hoặc của gia đình. Trẻ có thể so sánh với hiện tại để biết sự khác nhau.

3. Giúp trẻ nói năng lưu loát hơn

Khi đọc to một câu chuyện, bạn đang để con làm quen với ngôn ngữ, học được những từ mới, cách diễn đạt hay. Nhờ nghe nhiều, trẻ cũng sẽ phát âm rõ ràng hơn.

4. Cải thiện kỹ năng nghe

Đa số trẻ chỉ tập trung trong thời gian ngắn, cảm thấy khó khăn khi phải theo dõi một câu chuyện dài. Do đó, trẻ có thể nói nhiều nhưng không dành thời gian nghe người khác nói.

Việc kể chuyện không chỉ giúp trẻ cải thiện khả năng chú ý mà còn khiến chúng thích lắng nghe để thấu hiểu.

5. Khuyến khích khả năng tưởng tượng và sáng tạo

Thay vì xem phim hoạt hình với hình ảnh, âm thanh sống động, trẻ có thể phát triển trí tưởng tượng về các nhân vật, địa điểm trong một câu chuyện. Suy nghĩ tự do cũng giúp trẻ sáng tạo hơn, không theo khuôn mẫu.

6. Công cụ để rèn luyện trí nhớ

Bằng cách sử dụng các ý tưởng thông minh, bạn có thể tận dụng việc kể chuyện để rèn trí nhớ cho trẻ. Mỗi lần đọc to một câu chuyện vào giờ đi ngủ, bạn hãy yêu cầu con kể lại sau vài ngày hoặc phát triển câu chuyện theo ý mình. Trẻ sẽ tập trung hơn khi thường xuyên được giao nhiệm vụ này.

7. Mở rộng phạm vi hiểu biết

Trẻ nhỏ chưa nhận thức về các nước hoặc các nền văn hóa trên thế giới. Bạn hãy lựa chọn những câu chuyện đơn giản nhưng đa dạng, về nhiều chủ đề hoặc nhiều quốc gia.

8. Việc học tập trở nên dễ dàng hơn

Nghe kể chuyện là một bước thang trên chặng đường học tập của trẻ. Nhiều học sinh có thói quen học vẹt, không thực sự hiểu nội dung. Khi kể chuyện trở thành hoạt động thường xuyên, trẻ sẽ thích thú với những gì mình đọc được.

Ngoài ra, nếu trẻ không thể tiếp thu môn lịch sử ở trường, bạn có thể biến thành chuyện kể để trẻ háo hức và tò mò hơn.

9. Giao tiếp tốt hơn

Đôi khi, trẻ ngần ngại đặt câu hỏi dù vô cùng tò mò. Nghe kể chuyện thường xuyên, được bố mẹ đặt nhiều câu hỏi, trẻ học được thói quen này. Không chỉ cải thiện giao tiếp hàng ngày, nhiều trẻ còn phát triển khả năng diễn thuyết, hùng biện.

10. Dễ đối mặt với tình huống khó khăn

Trẻ con thường ngây thơ và bối rối trước tình huống khó khăn. Những câu chuyện với rất nhiều nhân vật và nghịch cảnh trong đó giúp trẻ hình dung tốt hơn về những rắc rối. Phụ huynh nên kể cho con cả chuyện buồn lẫn chuyện vui nhiều như nhau, nhằm giúp con trang bị tốt hơn cho cuộc sống phức tạp.

- Nguồn bài: Internet / Ảnh: Tiệm Sách Totto-Chan

ĐỌC SÁCH LÀ "KHOẢN ĐẦU TƯ CÓ LÃI NHẤT" ĐỜI NGƯỜINhững người không đọc sách mà trở thành triệu phú trên thế giới này chỉ ...
19/09/2019

ĐỌC SÁCH LÀ "KHOẢN ĐẦU TƯ CÓ LÃI NHẤT" ĐỜI NGƯỜI

Những người không đọc sách mà trở thành triệu phú trên thế giới này chỉ là trường hợp đặc biệt. Nhưng những người chăm đọc, đọc nhiều và giỏi kiếm tiền như Bill Gates, Warren Buffetts thì rất nhiều.

1. Đọc sách giúp bạn trở thành một người tốt hơn. Việc đọc sách có thể ảnh hưởng tích cực đến tính cách của chúng ta bởi cách nó mở rộng quan điểm của chúng ta. Đọc cũng giúp xây dựng sự đồng cảm, giúp bạn có thể đặt mình vào vị trí của người khác. Bạn sẽ có nhiều khả năng làm tốt hơn và chu đáo hơn trong các quyết định.

2. Đọc sách giúp kích thích não bộ. Các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha đã phát hiện ra rằng đọc sách về các chất có mùi vị đặc biệt (ví dụ: hoa nhài, quế hoặc tỏi) sẽ giúp thúc đẩy các trung tâm khứu giác của não bộ. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu người Pháp cho biết đọc sách về hành động (ví dụ như sách về bóng đá) sẽ giúp bạn cải thiện chức năng vận động.
Điều này giúp tăng cường và thúc đẩy cái tế bào thần kinh cho phép bạn sáng tạo hơn, suy nghĩ rõ ràng hơn và nghiêm túc hơn, đặt câu hỏi tốt hơn và kết nối tinh thần nhanh hơn.

3. Đọc sách giúp phòng ngừa bệnh Alzheimer
Hoạt động đọc đơn giản và thiền định có thể giúp giảm các triệu chứng của bệnh Alzheimer, chứng sa sút trí tuệ và các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm.
Một nghiên cứu của Trung tâm Y tế Đại học Rush ở Chicago ủng hộ điều này, họ nói rằng những người thường xuyên đọc sách có thể sẽ có bộ não khỏe mạnh hơn, nhất là sau khi về già.

4. Đọc sách giúp giảm căng thẳng
Tiến sĩ David Lewis của Đại học Sussex - một nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực thần kinh học cho biết rằng đọc sách trong vòng 6 phút đã có thể giảm thiểu mức căng thẳng xuống 60%, điều hòa nhịp tim, giảm căng cơ, và thay đổi trạng thái tâm lý của bạn. Nếu bạn cảm thấy căng thẳng ở bất cứ thời điểm nào trong ngày, hãy đọc sách và cảm nhận sự khác biệt.

5. Đọc nhiều hơn giúp bạn học nhanh hơn
Đây có lẽ lợi ích quan trọng và rõ ràng nhất, minh chứng cho việc đọc sách mang lại rất nhiều lợi ích cho não bộ. Đọc là cách dễ dàng nhất để cung cấp cho não của bạn một vùng kiến ​​thức mới, có thể đưa bạn đến một quan điểm mới, hình thành nên các ý tưởng mới và sáng tạo hơn.

Nguồn: fb

Address

Hanoi

Telephone

+84985899325

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tiệm sách Totto-Chan / Totto-Chan Books posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tiệm sách Totto-Chan / Totto-Chan Books:

Shortcuts

Share

Category