19/09/2019
KHI TÌNH YÊU CỦA CHA MẸ LÀ MỆNH LỆNH...
Hơn 50 năm trước, nhà tâm lý học Carl Rogers đã từng nói chỉ yêu thương con cái thôi là chưa đủ. Ông nói chúng ta cần phải yêu thương con cái chúng ta một cách vô điều kiện bởi con người chúng, thay vì những gì mà chúng làm.
Với tư cách là một người cha, tôi hiểu đây là một thử thách, và giờ đây nó còn thách thức hơn khi phần lớn những lời khuyên mà chúng ta nhận được lại hoàn toàn trái ngược.
Trên thực tế, người ta cho chúng ta vô số những mẹo nuôi dạy con cái theo kiểu điều kiện hóa, và thường đi theo một trong hai hướng. Hoặc là thể hiện nhiều tình cảm hơn khi con cái chúng ta trở nên ngoan ngoãn hoặc là rút lại những cử chỉ yêu thương khi chúng trở nên khó bảo.
Người dẫn chương trình Phil McGraw viết trong cuốn “Gia đình là trên hết” (Free Press, 2004) rằng những điều trẻ cần hay cảm thấy thích thú chỉ nên được đáp ứng một cách có chọn lọc, thông qua việc ban tặng hoặc rút lại các phần thưởng để chúng “cư xử như bạn mong muốn”. Và ông cũng nói thêm rằng “một trong những loại tiền tệ có sức mạnh to lớn nhất đối với một đứa trẻ chính là sự chấp nhận và tán thành của cha mẹ chúng”.
Tương tự, Jo Frost trong chương trình “Supernanny”, trong cuốn sách cùng tên của mình (Hyperion, 2005) cũng nói rằng “Phần thưởng lớn nhất chính là sự quan tâm, trân trọng và yêu thương”, và những thứ này cần được giữ lại “khi đứa trẻ cư xử không đúng mực cho tới khi trẻ biết nói lời xin lỗi”. Chỉ cho đến khi đó thì tình yêu thương mới được trở lại.
Nuôi dạy con theo lối điều kiện hóa không chỉ giới hạn ở những bậc cha mẹ độc đoán truyền thống. Có những cha mẹ chưa từng nghĩ tới việc tét đít con mình lại chọn hình thức cách ly/cô lập để đưa con vào quy củ - một chiến thuật mà chúng ta thường được biết đến dưới tên gọi “hết giờ” (*time-out: rút ngắn thời gian chơi hoặc tham gia các hoạt động yêu thích của trẻ). Ngược lại, “củng cố tích cực” dạy cho trẻ rằng chúng chỉ được yêu thương và đáng được yêu thương khi chúng làm bất cứ điều gì mà chúng ta cho là “việc làm đúng đắn”.
Điều này đặt ra một khả năng đó là vấn đề với lời khen không nằm ở chỗ nó được đưa ra sai cách, hay được đưa ra một cách quá dễ dàng, như những người theo phái bảo thủ đã quả quyết khẳng định. Đúng hơn, vấn đề nằm ở chỗ lời khen chỉ là một hình thức khác để kiểm soát trẻ, tương tự như trừng phạt. Thông điệp chính của mọi hình thức nuôi dạy theo kiểu điều kiện hóa chính là đứa trẻ phải tự mình dành lấy tình yêu của cha mẹ. Một chế độ yêu thương thường xuyên bị hạn chế, như lời cảnh báo của Rogers, sau cùng sẽ dẫn đến việc trẻ cần tới một nhà trị liệu mang lại cho chúng sự chấp nhận vô điều kiện mà chúng đã không thể có được.
Nhưng những gì Rogers nói với chúng ta liệu có thực sự đúng? Trước khi vứt bỏ những hình thức kỷ luật vẫn đang thịnh hành, tốt hơn là chúng ta nên có một vài bằng chứng cụ thể.
Vào năm 2004, hai nhà nghiên cứu người Israell, Avi Assor và Guy Roth, cùng với Edward L. Deci, một chuyên gia hàng đầu ở Mỹ về tâm lý học động lực, tiến hành một khảo sát với hơn 100 sinh viên để xem liệu tình yêu mà họ nhận được từ cha mẹ có phụ thuộc vào thành tích học tập của họ ở trường hay không? vào mức độ chăm chỉ rèn luyện thể thao? vào sự chu đáo đối với người khác? hay vào khả năng dồn nén những cảm xúc như giận dữ hay lo sợ?
Kết quả cho thấy những đứa trẻ nhận được sự chấp nhận có điều kiện, trên thực tế có xu hướng làm theo những gì cha mẹ mong muốn. Nhưng để có được sự phục tùng đó, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt. Trước tiên là con cái có xu hướng oán hận hoặc không yêu thích cha mẹ mình. Thứ hai là chúng cũng nhìn nhận rằng những việc mà mình làm thường là do “áp lực mạnh mẽ bên trong” hơn là do “một sự tự do lựa chọn thực sự”. Hơn nữa, niềm hạnh phúc mà những đứa trẻ này cảm nhận khi thành công ở một lĩnh vực nào đó thường không kéo dài, và chúng thường cảm thấy tội lỗi và hổ thẹn.
Trong một nghiên cứu, tiến sĩ Assor và các cộng sự đã phỏng vấn những bà mẹ có con ở độ tuổi trưởng thành. Ngay cả với thế hệ này, việc nuôi dạy theo lối điều kiện hóa cũng cho thấy những tác hại của nó. Các bà mẹ này khi còn là những đứa trẻ từng cảm thấy rằng họ chỉ được yêu thương khi nào mình đáp ứng được những kỳ vọng của cha mẹ giờ đây cảm thấy mình kém giá trị khi đã trưởng thành. Nhưng ngay cả những tác động tiêu cực này cũng không làm thay đổi xu hướng yêu thương có điều kiện của những bà mẹ này đối với con mình.
Vào tháng 7 vừa qua, những nhà nghiên cứu trên, cùng với 2 trong số các cộng sự của Deci tại đại học Rochester, đã xuất bản 2 ấn phẩm tái bản và mở rộng của nghiên cứu năm 2004. Lần này, khách thể nghiên cứu là các học sinh khối 9, và có một sự phân loại kỹ lưỡng giữa việc chấp nhận nhiều hơn và việc chấp nhận ít hơn khi trẻ làm theo những điều cha mẹ mong muốn,
Các nghiên cứu này cho thấy cách nuôi dạy kiểu điều kiện hóa tích cực hay điều kiện hóa tiêu cực cũng đều có hại, nhưng theo những cách khác nhau. Điều kiện hóa tích cực đôi khi thành công trong việc cải thiện nỗ lực học tập của trẻ, nhưng đổi lại là những cảm xúc không lành mạnh về “sự miễn cưỡng nội tâm”. Điều kiện hóa tiêu cực còn không hề cho thấy tính hiệu quả dù ngắn hạn, mà chỉ làm tăng những cảm xúc tiêu cực của trẻ với cha mẹ.
Điều mà những nghiên cứu trên đã chỉ ra cho chúng ta thấy, nếu chúng ta thực sự muốn thấy, là việc tuyên dương trẻ khi trẻ làm đúng một điều gì đó không phải một sự thay thế hiệu quả cho việc hạn chế hay trừng phạt khi trẻ làm sai. Cả hai đều là những hình thức nuôi dạy theo kiểu điều kiện hóa và đều phản tác dụng.
Nhà tâm lý học trẻ em Bruno Bettelheim, người đã dễ dàng thừa nhận rằng các kiểu điều kiện hóa tiêu cực như time-out (hết giờ) có thể gây ra "cảm giác lo âu sâu sắc", cuối cùng vẫn tán thành nó với lý do rằng "khi lời nói của bạn là không đủ thì việc đe dọa lấy đi tình yêu thương và sự quan tâm là âm thanh duy nhất hiệu quả đề nói với đứa trẻ rằng tốt hơn hết là nó nên tuân theo yêu cầu của chúng ta."
Nhưng dữ liệu cho thấy việc lấy đi tình yêu thương đặc biệt không hiệu quả trong việc tuân thủ, và còn không hiệu quả hơn nữa trong việc phát triển đạo đức. Ngay cả khi chúng ta thành công trong việc khiến cho đứa trẻ vâng lời chúng ta bằng sự củng cố tích cực thì liệu có đáng để chúng ta đánh đổi nó bằng những tổn thương tâm lý lâu dài? Liệu tình yêu thương của cha mẹ có nên được sử dụng như là một công cụ để kiểm soát đứa trẻ?
Ngay cả khi chúng ta thành công trong việc khiến cho đứa trẻ vâng lời chúng ta bằng sự củng cố tích cực thì liệu có đáng để chúng ta đánh đổi nó bằng những tổn thương tâm lý lâu dài?
Albert Bandura, cha đẻ của nhánh tâm lý học được biết đến với tên gọi lý thuyết học tập xã hội, khẳng định rằng tình yêu thương vô điều kiện "có thể khiến đứa trẻ mất phương hướng và trở nên không thể chấp nhận được" - một khẳng định hoàn toàn không được ủng hộ bởi các nghiên cứu thực tiễn. Ý tưởng rằng đứa trẻ được chấp nhận bởi con người chúng sẽ mất phương hướng hay chống đối là một chi tiết gợi ý về cái nhìn tăm tối về bản chất của con người nơi những người đưa ra lời cảnh báo ấy.
Trên thực tế, theo một tập hợp dữ liệu đồ sộ của Tiến sĩ Deci và những người khác, sự chấp nhận vô điều kiện của cha mẹ cũng như thầy cô nên được đi kèm với "sự ủng hộ tính tự chủ": giải thích lý do cho những yêu cầu, tối đa hóa cơ hội để trẻ tham gia vào việc ra quyết định, khuyến khích thay vì thao túng, và tích cực tưởng tượng xem mọi thứ được nhìn nhận như thế nào qua góc nhìn của trẻ.
Yếu tố cuối cùng trên đây rất quan trọng đối với việc nuôi dạy con một cách vô điều kiện. Phần lớn chúng ta sẽ phản đối rằng tất nhiên là chúng ta yêu con cái của chúng ta mà không có bất cứ một ràng buộc nào. Nhưng điều thực sự quan trọng là những gì mà đứa trẻ nhận thấy từ góc nhìn của nó - liệu chúng có cảm thấy được yêu thương khi chúng làm rối tung mọi việc hay là thất bại hay không?
Nhưng điều thực sự quan trọng là những gì mà đứa trẻ nhận thấy từ góc nhìn của nó - liệu chúng có cảm thấy được yêu thương khi chúng làm rối tung mọi việc hay là thất bại hay không?
Rogers không nói ra điều này, nhưng tôi cá rằng ông sẽ rất hạnh phúc khi thấy nhu cầu đối với các nhà tâm lý trị liệu giảm xuống nếu như điều đó đồng nghĩa rằng ngày càng có nhiều người trưởng thành với cảm nhận rằng mình được chấp nhận một cách vô điều kiện.
Alfie Kohn
The New York Times
Đinh Thị Hồng Nhung &
Kiến Minh Nguyễn Ngọc Quang dịch
Vietnam Rogerian Group
____
Alfie Kohn là tác giả của 11 cuốn sách về hành vi con người và giáo dục, bao gồm "nuôi dạy con vô điều kiện" và "Trừng phạt bằng phần thưởng."
(Nguồn: Khám phá Tâm lý học)