HBX VIỆT NAM

Call Directions Website Contact the business

HBX VIỆT NAM Nơi trao đổi, tìm kiếm thông tin về nhà ở, đời sống, các dịch vụ thiết yếu của mọi người

Chợ Vin là nơi kết nối giữa những người có nhu cầu tìm kiếm và người cung cấp dịch vụ ở lĩnh vực nhà ở, đời sống và các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như ăn uống, mua sắm,...
Tất cả mọi đối tượng đều có thể tham gia đăng tin tìm kiếm hoặc rao bán, cung cấp dịch vụ của mình. Các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng trang để quảng cáo, treo banner để tiếp cận lượng người dùng khổng lồ trong cộng đồng. Ngoài ra đây cũng là nơi giao lưu, gắn kết và hỗ trợ nhau tìm được địa chỉ, dịch vụ lí tưởng thông qua các đánh giá của người dùng trong cộng đồng.

Đừng vội vàng đầu tư đa ngành khi không có kiến trúc thương hiệuThế giới đang trong quá trình thay đổi đột biến, cơ hội ...
12/12/2020

Đừng vội vàng đầu tư đa ngành khi không có kiến trúc thương hiệu

Thế giới đang trong quá trình thay đổi đột biến, cơ hội và rủi ro xảy ra cùng lúc. Nếu doanh nghiệp không tỉnh táo hoạch định chiến lược kinh doanh bài bản, rủi ro và thất bại xảy ra với xác suất rất cao.

Là người đồng hành với rất nhiều doanh nghiệp có thương hiệu và dự án quy mô lớn, trải qua hàng chục năm kinh nghiệm tư vấn cho các tập đoàn và thương hiệu hàng đầu Việt Nam và quốc tế, trực tiếp đào tạo cho hàng nghìn cán bộ quản lý thế hệ đầu tại Việt Nam, từng được mời tham dự Đại hội Marketing thế giới (2019)…

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu để chia sẻ cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trước bối cảnh thế giới thay đổi, bằng tư duy chiến lược phù hợp chắt lọc từ nhiều mô hình tăng trưởng lẫn chiến lược marketing thương hiệu bền vững và phòng tránh rủi ro.

Thứ nhất, thách thức chiến lược và quản trị khi nhảy vào lĩnh vực nằm ngoài chuyên môn và sự hiểu biết.

Sau 15 năm Tập đoàn Dầu khí PetroVietnam chinh phục một lĩnh vực mới đó là sản xuất và kinh doanh phân bón với hai thương hiệu dẫn đầu hiện nay là Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau.

Từ sản phẫm lõi là Urea sang N.K.P. cho đến nay đã lấn sân sang lĩnh vực sâu hơn đó là phân bón hữu cơ. DPM và DCM liên tục có lãi và chạy hết công suất kể khi từ khi vận hành đến nay.

Không phải dễ dàng có được sự thành công như vậy, vì theo chúng tôi biết nhân sự của các doanh nghiệp này phải chuyển đổi từ ngành dầu khí sang kinh doanh phân bón, nông nghiệp và phải học hỏi đổi mới liên tục trở thành chuyên gia nông nghiệp và cây trồng thực thụ.

Nếu nhìn sang một dự án thất bại khác cùng ngành đó là dự án dầu tư sơ sợi PV Tex sản xuất Polyester nguyên liệu chủ lực của ngành dệt may đã không thành công như kỳ vọng.

Làn sóng đầu tư nông nghiệp diễn ra cũng rất sôi động nhưng không phải tập đoàn nào cũng diễn biến suôn sẻ. Ngay như Hoàng Anh Gia Lai tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp, mãi cho đến nay vẫn chưa thật sự có hiệu quả tài chính, có lẽ nguyên nhân chính là chiến lược chưa hoàn thiện giữa thượng nguồn (upstream - canh tác nông nghiệp) và hạ nguồn (downstream - chế biến và thị trường đầu ra) trong một chiến lược chuỗi giá trị xuyên suốt cần thiết.

Taxi truyền thống Vinasun trong giai đoạn bị lấn sân bởi hàng loạt taxi công nghệ (Uber, Grab…) tưởng chừng như bị loại khỏi cuộc chơi. Thế nhưng nhờ sự sáng suốt và nhạy bén, nắm bắt những giá trị cốt lõi, trong đó có vai trò và giá trị thương hiệu mạnh (Vinasun từng được định giá 1 tỷ USD). Cho đến nay đã trụ vững và xác định rõ thị phần và phân khúc khách hàng.

Vinamilk cũng có thời gian đầu tư lấn sân sang lĩnh vực bia (liên doanh Sab Miller) sau một thời gian lãnh đạo Vinamilk đã sớm nhận rõ năng lực và kinh nghiệm thương trường, nhanh chóng chấp nhận rút khỏi cuộc chơi không chỉ bảo toàn vốn mà tập trung năng lực cốt lõi cho ngành sữa để có được một đế chế như hôm nay. Điều tương tự đang xảy ra với Nutifood.

Thứ hai, chiến lược đa ngành rất cần thiết cho sự phát triển lên quy mô tập đoàn (conglomerate) nhưng phải dựa vào năng lực nội tại và chuỗi giá trị.

Trong hai thập kỷ qua các nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam và quốc tế có liên quan, đã tìm tòi so sánh nhiều mô hình khác nhau cho sự phát triển doanh nghiệp, kể cả các tổng công ty hay tập đoàn kinh tế có sở hữu nhà nước.

Làn sóng cổ phần hoá và M&A diễn ra ồ ạt trong những năm gần đây diễn biến tích cực nhưng cũng có những sự thiếu sót.

Một trong số đó là tư duy về thương hiệu và tài sản giá trị mềm, tài sản vô hình, bản quyền, thương quyền, văn hoá và tài sản khác mà chưa có kinh nghiệm định giá.

Một tư duy cốt lõi đó là chuỗi giá trị - trong sự hình thành cấu trúc đa ngành, đang là chìa khoá thành công nếu biết vận dụng đúng đắn. Ít ai ngờ những mặt hàng như trứng gà hay thịt heo có thể mang lại lợi nhuận hàng nghìn tỷ đồng, không hề thua kém bất động sản hay sản xuất ô tô.

Trong ngành cà phê thật ra Trung Nguyên hay King Coffee là những doanh nghiệp tư nhân và ra đời muộn so với các đại gia như Intimex, Tín Nghĩa… nhưng trở thành những thế lực đại diện, để rồi chính Intimex và Tín Nghĩa cũng phải xem và thay đổi chiến lược đầu tư vào các nhà máy cà phê chế biến sâu (cà phê hoà tan) thay vì sản xuất thô như trước đây.

Một chiến lược đa ngành, ngoài tư duy đột phá và cơ hội thị trường, cần nên dung hoà với các mối quan hệ đan chéo lẫn nhau của chuỗi giá trị. Tư duy mới hình thành gần đây đó là ‘kinh tế tuần hoàn’ cũng là một chìa khoá được hình thành từ chuỗi giá trị.

Một ví dụ điển hình nữa là việc chuyển đổi VinMart từ Vingroup sang Masan có vẻ như được điều hành hiệu quả hơn và với những chiêu trò thuộc kinh nghiệm marketing của Masan đã tạo ra một sức sống tăng trưởng mới cho thương hiệu VinMart này.

Thứ ba, cần dung hoà giữa tư duy ‘quan hệ’ và tư duy ‘chiến lược’ hướng đến thương hiệu.

Chúng tôi nhận thấy vẫn còn một tỷ lệ đáng kể doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển dựa trên các mối quan hệ. Trong khi đáng lẽ ra cần ‘tranh thủ’ các mối quan hệ ở một giai đoạn cần thiết nhất định mà thôi để tranh thủ xác lập chiến lược tự chủ và hệ thống quản trị chuyên nghiệp hướng đến giảm thiểu sự lệ thuộc vào quan hệ, tiến đến tự chủ trong chiến lược kinh doanh.

Khi đó một lần nữa vai trò của thương hiệu cần được xác lập hướng đến khách hàng và cộng đồng, trong và ngoài nước.

Ngay trong lĩnh vực bất động sản về cơ bản cơ hội kinh doanh hình thành từ pháp lý và quan hệ, tuy nhiên một khi xác lập thương hiệu (như Novaland cách đây 10 năm) thì chính sức hút thương hiệu tạo ra những cơ hội kinh doanh mới, ví dụ như chủ đất mong muốn hợp tác phát triển dự án dựa vào sức mạnh thương hiệu và cả các quỹ đầu tư và uy tín gia tăng đối với khách hàng.

Theo tư tưởng của Henry Ford (economic of scale), cần thiết có quy mô kinh tế để hình thành thương hiệu, và chính thương hiệu (Ford) lại thúc đẩy tăng trưởng quy mô kinh tế.

Các tập đoàn khi phát triển quy mô lớn đều thoát ra khỏi những chiếc áo quan hệ chật hẹp, như quy mô gia đình, nhóm bạn khởi nghiệp, sở hữu cá nhân, hay quan hệ địa phương và thị trường ngách… từ đó xây dựng và khẳng định vai trò nhất quyết của tư duy hệ thống, quy trình quản trị và kiểm soát, chiến lược thị trường đại chúng và dòng chính (mass và mainstream), chiến lược đại chúng hoá sở hữu (go public).

Một chương trình kinh tế địa phương hiện nay đang được chú ý và mang lại hiệu quả bước đầu tại một số địa phương, đó là OCOP (mỗi xã một sản phẩm), điển hình thành công là tỉnh Quảng Ninh như hiện nay.

Tuy nhiên nếu phân tích sâu hơn thì chỉ mới thành công ở bước sớm trong cả một tiến trình dài xây dựng thương hiệu, chuyên nghiệp hoá, quy mô hoá và tiến ra thế giới… Một khi OCOP thoát ra khỏi tư duy địa phương sẽ là một cú đột phá lớn.

Thứ tư, marketing, cấu trúc thương hiệu và chiến lược đa dòng tiền.

Khi doanh nghiệp phát triển quy mô đa ngành, mở rộng sang nhiều dòng sản phẩm đến nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, xúc tiến hoạt động thị trường tại nhiều quốc gia khác nhau một cách bài bản… khi đó cấu trúc thương hiệu sản phẩm hay cấu trúc thương hiệu cấp công ty/tập đoàn trở nên quá chật hẹp.

Những công ty đơn ngành (ví dụ Apple) thường ít gặp rủi ro phá vỡ cấu trúc thương hiệu như các tập đoàn đa ngành (ví dụ Vingroup hay các tập đoàn Hàn Quốc như CJ).

Ngay trong một tập đoàn sản xuất ô tô, cấu trúc thương hiệu hay định vị đa nhãn hiệu từ lâu đã là những đề tài nghiên cứu rất phong phú và mỗi tập đoàn đều xác định mô thức định vị thương hiệu riêng cho mình như một bí quyết quản trị, một know-how…

Tại Việt Nam, thương hiệu không chỉ được áp dụng ở doanh nghiệp mà không ít các địa phương (cấp tỉnh thành) đã bước đầu áp dụng thành công các mô hình thương hiệu địa phương, thương hiệu điểm đến du lịch, thương hiệu sản phẩm đặc sản hay thương hiệu tập thể.

Tuy nhiên với các tập đoàn kinh tế lớn, cấu trúc thương hiệu vẫn còn chưa được áp dụng thấu đáo. Lấy ví dụ qua theo dõi nhiều năm tư duy chiến lược chuỗi giá trị và cấu trúc thương hiệu của Vinatex - tập đoàn dệt may nơi tạo ra việc làm cho hàng triệu lao động, vẫn chưa có một sự đột phá về chiến lược và cấu trúc thương hiệu, xứng tầm với tiềm năng thị trường quốc tế, với vị thế top 5 cường quốc may mặc thời trang.

Vinatex vẫn trung thành với quan điểm chiến lược thương hiệu tập trung theo mô thức thương hiệu công ty (corporate brand) chứ chưa xây dựng thương hiệu sản phẩm (product brand) nổi tiếng ở thị trường đích.

Khó khăn chủ yếu đó là họ chưa mạnh dạn xây dựng, hay hợp tác đầu tư và xây dựng chuỗi bán lẻ đa quốc gia trong bối cảnh mà thương mại điện tử đang xoá bỏ và thay đổi thị trường bán lẻ truyền thống.

Ở một mức độ thấp hơn các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ có tâm ý e sợ làm phiền lòng đối tác gia công khi xướng danh thương hiệu riêng của mình.

Thứ năm, doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển đổi sang mô hình tập đoàn, nhưng thiếu kiến thức quản trị hệ thống của mô hình tập đoàn.

Từng có nhiều năm gắn kết trực tiếp (hoặc gián tiếp) với các doanh nghiệp có thương hiệu thành công như hiện nay, đồng thời quan sát sự phát triển nhiều năm liền của doanh nghiệp Việt Nam, chúng tôi nhận thấy các doanh nghiệp thành công (tạm gọi là doanh nghiệp và thương hiệu tỷ đô) đã từng học hỏi mô hình và cấu trúc quản trị cũng như chiến lược kinh doanh marketing và thương hiệu từ các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu, cũng như mời gọi nhân sự có năng lực từ các công ty có thương hiệu và mô hình quản trị tiên tiến thế giới…

Có một chuyển biến tích cực trong các doanh nghiệp Việt Nam đó là thế hệ thứ hai (con cháu) của các ông chủ doanh nghiệp đã và đang từng bước nắm bắt việc điều hành doanh nghiệp do thế hệ đi trước gầy dựng. Những mô hình tập đoàn áp dụng được cho Việt Nam vẫn còn là đề tài nghiên cứu lý thú.

Trong phạm vi hữu hạn của chúng tôi đã trải qua việc nghiên cứu so sánh đặc thù và văn hoá quản trị của các mô hình khác nhau, từ conglomerate đến zaibatsu và keiretsu Nhật Bản, các chaebol Hàn Quốc, các mô hình đã điều chỉnh của Đài Loan và Singapore cũng được xem xét tham khảo.

Có điều cần chú ý rằng cho dù thương hiệu được hình thành trong suốt quá trình gầy dựng các tập đoàn châu Âu, Mỹ và Nhật Bản nhưng việc quản trị thương hiệu trong tập đoàn cũng như vai trò và giá trị mang tính quyết định của brand thì mới hình thành từ thập niên 90 mà thôi.

Nói như A G. Lafley CEO của P&G (Hoa Kỳ) rằng nếu tôi có thể mang theo 1 thứ quý giá nhất thì đó chính là thương hiệu của công ty. Điều này không có gì ngạc nhiên, ngay như các học giả nổi tiếng về thương hiệu như Paul Temporal, David Aaker, Al Ries… cũng đặt ra rất nhiều nghi vấn và giả định về hiện trạng của cấu trúc thương hiệu (hay kiến trúc thương hiệu - brand architecture) tập đoàn và đưa ra nhiều giả định tham khảo chứ không hề khuôn thức tiêu biểu trong lĩnh vực cấu trúc thương hiệu ô tô mỗi tập đoàn đưa ra một định hướng kiến trúc thương hiệu riêng và không bao giờ rập khuôn.

Chính Toyota dù chậm ứng dụng thương hiệu (so với Âu Mỹ) nhưng về sau đã có một kiến trúc thương hiệu ưu việt hơn, trước khi Mercedes Benz và BMW (vào thập niên 90) nhận ra và thay đổi. Trào lưu M&A trong thời kỳ đầu cũng lúng túng khi xử lý cấu trúc thương hiệu ghép sau đó đã phá bỏ và quay về thương hiệu gốc đơn thể.

Theo Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang | The LEADer - Diễn đàn của các nhà quản trị

==========
Nếu các bạn đang có ý định đầu tư thật nhiều cho thương hiệu của mình đẻ được lớn mạnh như các thương hiệu nổi tiếng thì hãy tìm hiểu thật kỹ và tốt nhất nên có chiến lược để không bị đầu tư sai cách và tốn kém chi phí oan uổng nhé.

Thương hiệu cần làm gì khi giới trẻ xa rời quảng cáo truyền thốngSau đại dịch, các thương hiệu cần tập trung chủ yếu vào...
11/12/2020

Thương hiệu cần làm gì khi giới trẻ xa rời quảng cáo truyền thống

Sau đại dịch, các thương hiệu cần tập trung chủ yếu vào việc làm thế nào để trở nên gần gũi hơn và xuất hiện nhiều hơn trong các cuộc trò chuyện hằng ngày của người tiêu dùng bằng cách xây dựng hình ảnh và cá tính riêng của mình.

Đại dịch đang khiến những chuyển đổi về mặt số hóa trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Với kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất từ trước đến nay, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội ngày càng tăng tốc khi các mảng phát triển công nghệ chủ chốt như FinTech và thương mại điện tử bắt đầu nhập cuộc.

Đáng chú ý, các thương hiệu từ lớn đến nhỏ hiện đang khai thác các nền tảng nội dung như TikTok để phát trực tiếp như một kênh thu hút người tiêu dùng mới.

“Chúng tôi nhận thấy đại dịch đang khơi dậy các xu hướng có từ trước, chẳng hạn như chủ đề số hóa của Việt Nam và sức ảnh hưởng của nội dung trên các kênh truyền thông xã hội đối với người tiêu dùng”, ông Raphael Lachkar, Giám đốc điều hành Vero cho biết.

Ông Raphael chỉ ra, từ việc cơ quan nhà nước sử dụng TikTok để truyền đạt các hướng dẫn về an toàn trong mùa đại dịch Covid-19 cho thấy, rõ ràng là các thương hiệu cần phải ngày càng linh hoạt để bắt kịp với những hành vi thay đổi của người tiêu dùng nhằm đẩy mạnh sự hiện diện của thương hiệu trong một thị trường rộng lớn.

Tính linh hoạt đã được chứng minh là yếu tố duy nhất bất biến của bất kỳ tổ chức nào để điều hướng cách thức hoạt động và tồn tại trong diễn biến phức tạp của đại dịch.

Theo ông Raphael, giới tiêu dùng trẻ tuổi của Việt Nam đang dần rời xa các cách thức quảng cáo truyền thống. Trong khi đó, sáu kênh tiếp cận các thương hiệu có uy tín được người tiêu dùng ngày nay đánh giá cao là qua bạn bè, thành viên gia đình, quảng cáo qua facebook và instagram, đồng nghiệp, các blogger trên mạng, và quảng cáo qua TV.

Có thể thấy, trước đây, quảng cáo qua TV có sức ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng nhưng sức ảnh hưởng của kênh này đã giảm sút.

Đại dịch đã đẩy người tiêu dùng lên các kênh trực tuyến nhiều hơn và thay đổi thói quen và hành vi của họ. Những người lớn tuổi trước nay không hề có khái niệm “online” thì nay cũng đã trở thành một phần trong cộng đồng những người mua sắm trực tuyến.

Còn với đối tượng khách hàng tiềm năng là thế hệ Y (sinh ra từ năm 1980 – 1994) và thế hệ Z (sinh ra từ năm 1995 – 2010), một chiếc điện thoại thông minh là điều không thể thiếu, cuộc sống trên mạng của họ vô cùng sôi động và ngày càng chân thực. Họ có xu hướng thể hiện cảm xúc và quan điểm của mình trên mạng xã hội trước khi tìm đến phản ánh với thương hiệu, và thậm chí họ không muốn phản ánh với thương hiệu.

Cũng vì vậy mà người tiêu dùng có thể chủ động tìm kiếm và chứng thực thông tin về sản phẩm và dịch vụ của một thương hiệu thay vì phụ thuộc vào những chiến dịch quảng cáo mang tính một chiều.

Cách thức quảng cáo một chiều khi thương hiệu đứng từ xa và “ra rả” về sản phẩm và dịch vụ của mình sẽ mất dần tính hiệu quả. Thay vào đó, các thương hiệu cần chú trọng yếu tố cộng đồng khi thực hiện các chiến dịch.

Điều này có nghĩa là sau đại dịch, các thương hiệu cần tập trung chủ yếu vào việc làm thế nào để trở nên gần gũi hơn và xuất hiện nhiều hơn trong các cuộc trò chuyện hằng ngày của người tiêu dùng bằng cách xây dựng hình ảnh và cá tính riêng của mình. Xây dựng cho mình một cá tính riêng, thương hiệu sẽ được cộng đồng chấp nhận và đưa thương hiệu vào cộng đồng đó.

Các chuyên gia trong ngành truyền thông đánh giá, địa phương hóa và bắt kịp xu hướng hành vi của người tiêu dùng là chìa khóa để duy trì sự kết nối với thị trường.

Trong khi người tiêu dùng đang ngày càng trở nên thông minh và cẩn trọng hơn khi quyết định dành niềm tin cho một thương hiệu xuất hiện ở các kênh quảng cáo truyền thống thì những người có tầm ảnh hưởng trong cộng đồng họ tham gia (influencer) cũng như chính cộng đồng đó ngày càng được tin tưởng.

Trích dẫn báo cáo “Influencer mới tại Việt Nam: Gen Z và Gen Y đang đặt niềm tin vào ai?” do Vero thực hiện, ông Raphael cho biết, chỉ 30% người tham gia khảo sát cho rằng các influencer cũng chẳng khác gì một kênh quảng cáo thông thường.

Trong khi đó, có tới 66% người trả lời khẳng định thường có xu hướng sẽ tin tưởng một thương hiệu nhiều hơn sau khi thấy một influencer đăng tải nội dung liên quan hoặc nói về thương hiệu đó.

Khảo sát của Vero cũng chỉ ra, 70% số người theo dõi được khảo sát cho hay influencer thật sự tin vào thương hiệu mà họ quảng cáo, cho dù họ được nhãn hàng trả tiền để làm điều đó. Điều này khiến họ khác biệt so với quảng cáo thông thường, và đó cũng chính là giá trị cốt lõi của influencer.

Khán giả ngày nay xem influencer là nguồn thông tin và cũng là người chia sẻ và đồng điệu với họ. Chính vì vậy, các influencer giúp các thương hiệu kết nối trực tiếp với những nhóm khán giả cụ thể để xây dựng sự tin tưởng và tối đa hóa khả năng tiếp cận.

Theo Quỳnh Chi | The LEADer - Diễn đàn của các nhà Quản Trị

==========

Kênh TMĐT cũng là một kenh quảng cáo mới theo xu hướng công nghệ mới mà mọi người cũng đang dần tiếp cận nhiều hơn. Chợ vin luôn sẵn sàng hỗ trợ mọi nhu cầu quảng cáo của quý vị.

Minh bạch thông tin là nền tảng thực thi hiệu quả phòng vệ thương mạiTrong các vụ kiện phòng vệ thương mại, thông tin đư...
03/11/2020

Minh bạch thông tin là nền tảng thực thi hiệu quả phòng vệ thương mại

Trong các vụ kiện phòng vệ thương mại, thông tin được minh bạch và công khai sẽ là cơ sở giúp doanh nghiệp tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp, góp phần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh của thị trường.
Bà Phạm Châu Giang, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương cho biết, hiện tại Việt Nam đang có 13 hiệp định tự do thương mại (FTA) đã đi vào hiệu lực và 3 FTA đang trong quá trình đàm phán, ký kết.

Mới đây, sự kiện Hiệp định tự do thương mại Việt Nam – EU (EVFTA) đi vào hiệu lực được đánh giá là một điểm nhấn quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp vươn mình ra thế giới.

Tuy nhiên, khi hàng hóa ngoại nhập tràn vào Việt Nam do không vướng phải những rào cản thuế quan, các doanh nghiệp nội địa vốn yếu thế về công nghệ và kinh nghiệm, lại còn có nguy cơ gặp phải những chiêu trò cạnh tranh không lành mạnh.

Trước tình hình này, Cục Phòng vệ thương mại đã quyết định triển khai nhiều phương án nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như tính chủ động của doanh nghiệp về các công cụ phòng vệ thương mại, từ đó điều tiết thị trường theo hướng lành mạnh và công bằng.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, xây dựng cơ chế công khai, minh bạch về thông tin, dữ liệu cũng như hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp thực thi phòng vệ thương mại sẽ là nền tảng tiên quyết để thực hiện mục tiêu này.

Cụ thể, theo bà Trang, trong những vụ kiện phòng vệ thương mại, thông tin được yêu cầu cụ thể tới giá của từng lô hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy việc truy xuất những thông tin này không hề dễ dàng, thậm chí có sự khác biệt giữa số liệu của Bộ Công thương và Bộ Tài chính.

Tôi chỉ muốn tìm số liệu rằng trong 2 tháng vừa rồi, việc xuất khẩu tăng như thế nào so với giai đoạn trước mà cũng không làm được, vậy doanh nghiệp khi cần những thông tin chi tiết hơn thì họ lấy ở đâu ra”, bà Trang đặt vấn đề.

Sự minh bạch về thông tin cũng là cơ sở bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia lạm dụng phòng vệ thương mại để bảo hộ sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, bà Trang cũng gợi ý về cơ chế cảnh bảo sớm rủi ro, xây dựng hệ thống một cửa, tinh gọn thủ tục hành chính, tránh tạo ra các giấy phép con gây phiền hà cho doanh nghiệp.

Ghi nhận những ý kiến đóng góp của bà Trang, đại diện Cục Phòng vệ thương mại cho biết sẽ tiến hành xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng để tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn doanh nghiệp về phòng vệ thương mại.

Ông Lê Triệu Dũng, Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại nhận định, những năm gần đây, việc thực thi các công cụ phòng vệ thương mại đã có nhiều chuyển biến tích cực, cho thấy nhận thức của doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực từ phía chính phủ, doanh nghiệp cũng cần chủ động hơn trong việc tìm hiểu về những biện pháp phòng vệ thương mại để có thể tự bảo vệ mình khi có dấu hiệu bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp.

Ông Dũng khuyến khích các doanh nghiệp, văn phòng luật và những cá nhân liên quan tham gia khóa học trực tuyến có cấp giấy chứng nhận về phòng vệ thương mại trên trang chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO).

“Khóa học về phòng vệ thương mại của WTO là miễn phí và có thể đem đến nhiều lợi ích cho sự nghiệp của mỗi cá nhân cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”, ông Dũng cho biết.

Theo Phạm Sơn | The LEADer - Diễn đàn của các nhà Quản trị

==========
Các bạn, anh, chị, em đăng bài kinh doanh trên Chợ Vin cũng nhớ để đầy đủ thông tin và thật minh bạch nhé. Tự bảo vệ mình trowcs sẽ tốt hơn nha mọi người.

Doanh nghiệp Việt liên minh bán hàng vượt khủng hoảngTrong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, thúc đẩy và t...
02/11/2020

Doanh nghiệp Việt liên minh bán hàng vượt khủng hoảng

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, thúc đẩy và tăng cường hoạt động bán hàng là một trong những ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp để bù đắp doanh thu, phục hồi vốn lưu động và bắt đà tăng trưởng.
“Thiên nga đen” Covid-19 đã tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo về Triển vọng phát triển kinh tế thế giới của IMF, GDP toàn cầu có thể sụt giảm tới gần 5% trong năm nay, Mỹ và EU thậm chí còn giảm tới 8-10%.

Trong bối cảnh này, thúc đẩy và tăng cường hoạt động bán hàng là một trong những ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp để bù đắp doanh thu, phục hồi vốn lưu động và bắt đà tăng trưởng.

Diễn đàn “Từ sống sót tới thịnh vượng” với sự tham gia của FPT, Boston Consulting Group (BCG) Việt Nam, cùng lãnh đạo Tập đoàn Kangaroo, Tập đoàn CEN Group, Tập đoàn Tân Hiệp Phát, FE Credit đã phân tích các xu hướng mới của thị trường, các kênh phân phối, công cụ bán hàng mới, chia sẻ các bài học thực tiễn, từ đó rút ra kinh nghiệm nhằm tiếp cận khách hàng và phát triển thị trường trong bối cảnh hiện nay.

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT FPT khẳng định: “Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra áp lực kép cho nền kinh tế cũng như mỗi doanh nghiệp. Không ai đứng ngoài trước thách thức đang đến. Vì vậy, doanh nghiệp Việt cần liên kết lại. Cần phải chuyển quan hệ từ đối tác kinh doanh sang liên minh kinh doanh, để cảm thông trong lúc khó khăn, chia sẻ nguồn cảm hứng sáng tạo, những kinh nghiệm trải qua, và chung tay giúp đỡ lẫn nhau!”.

Đồng thời, nhà lãnh đạo tập đoàn công nghệ cũng đưa ra năm nhóm vấn đề cùng hành động giúp doanh nghiệp đẩy mạnh khả năng bán hàng để thích nghi với những thay đổi trong hành vi khách hàng.

Theo ông, nhà quản trị doanh nghiệp phải biến thành người chỉ huy trong thời chiến để bắt kịp các cơ hội, phản ứng nhanh với thay đổi, có tầm nhìn mới về kinh doanh. Doanh nghiệp cũng cần thay đổi cách thức bán hàng, sẵn sàng cho thương mại điện tử và xây dựng những trải nghiệm số ưu việt hơn cho khách hàng.

Chính sách giá cả phải linh hoạt, tinh gọn, nhấn mạnh vào những giá trị mới. Cần đặt trọng tâm vào con người, chiêu mộ, tái đào tạo, biến toàn bộ đội ngũ thành lực lượng bán hàng. Và đây cũng là thời điểm quan trọng nhất để tái trang bị “vũ khí” - những công cụ số, thúc đẩy chuyển đổi số với trọng tâm là tăng trưởng, làm hài lòng khách hàng, tự động hóa quy trình, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả vận hành và quản trị.

Đồng nhất với quan điểm của ông Bình, ông Arnaud Ginolin Tổng Giám đốc BCG tại Việt Nam cũng đưa ra dự báo, Covid-19 sẽ còn kéo dài ảnh hưởng đến ít nhất 12 – 16 tháng nữa. Chỉ 14% các công ty nhanh nhạy và linh hoạt nhất trở thành “người thắng cuộc”.

Nhằm giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, BCG đưa ra một số khuyến nghị chính yếu, trong đó tập trung nhất vào chiến lược phân bổ vốn cũng như thúc đẩy chuyển đổi số. Đây là hai hành động cấp bách và phù hợp nhất mà doanh nghiệp Việt có thể áp dụng ngay để tác động trực tiếp vào chi phí cũng như doanh thu.

Ông Arnaud, cùng với ông Hoàng Việt Anh, Phó Tổng giám đốc phụ trách chuyển đổi số của FPT, cũng đưa ra một số câu chuyện thực tiễn điển hình về các doanh nghiệp đã tận dụng sức mạnh của công nghệ số để nắm bắt cơ hội, phục hồi và phát triển nhanh hơn trong và sau khủng hoảng.

Chẳng hạn, việc sáng tạo các kênh số trải nghiệm sản phẩm như hội thảo trực tuyến, phát trực tiếp video lái thử xe của những người nổi tiếng… đã giúp Tesla lập kỷ lục về doanh số trong quý I tại thị trường Trung Quốc.

Hay việc thay đổi phương thức truyền thống thành phương thức số giúp mở rộng thị trường, tạo ra khách hàng mới, tiêu biểu như Viet Capital Bank, nhờ ứng dụng giải pháp định danh khách hàng điện tử eKYC, đã có tỷ lệ đăng ký tài khoản mới tới tháng 8/2020 gấp 3 lần so với tháng 1/2020.

Cũng trong khuôn khổ diễn đàn, lãnh đạo các doanh nghiệp đang dẫn đầu trong cuộc đua đón bắt làn sóng tăng trưởng bền vững và phục hồi sau Covid-19 như Tân Hiệp Phát, Kangaroo, CEN Group, FE Credit… đã chia sẻ những bài học kinh nghiệm sâu sắc về những thách thức trong thời kỳ khủng hoảng, cùng những hành động thực tiễn đã giúp họ gặt hái quả ngọt ngay trong mùa Covid.

Theo ông Nguyễn Trung Vũ, Chủ tịch HĐQT CEN Group, Covid-19 đã thúc đẩy doanh nghiệp phát hiện ra xu hướng mua sắm mới, tìm được thị trường ngách và ngay lập tức triển khai tiếp cận thị trường. Trong bối cảnh cả thị trường bất động sản tê liệt, CEN Group vẫn duy trì được đội ngũ gần 3.000 nhân sự, chốt hàng ngàn giao dịch mỗi tháng, doanh số 2020 dự kiến đạt, thậm chí vượt xa năm ngoái.

Kangaroo cũng có cách ứng phó tương tự, khi sáng tạo cách thức đưa hàng điện tử, điện gia dụng vào kênh hiệu thuốc, thay đổi chính sách giá để hướng tới phân khúc khách hàng phổ thông.

Theo ông Nguyễn Thành Phương, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Kangaroo, việc quản lý tài chính dưới góc độ sinh tồn, cắt giảm chi phí thừa và loại bỏ các khâu trung gian cũng giúp họ dành ngân sách cho việc thúc đẩy bán hàng. Nhờ đó, Kangaroo đã tận dụng được cơ hội “tìm cơ trong nguy” để tăng trưởng tới 210% so với năm 2019.

Tập đoàn Tân Hiệp Phát lại chú trọng tới yếu tố con người, thông qua việc truyền thông kêu gọi cắt giảm chi tiêu, đưa ra những đề xuất hiệu quả, tối ưu chi phí cho công ty.

Trong khi đó, SmartPay (FE Credit) tập trung vào chiến lược phát triển ứng dụng di động để gia tăng trải nghiệm cho khách hàng, nhờ đó họ đã có hơn 200 ngàn lượt tải ứng dụng mỗi tháng, doanh số giao dịch qua kênh này tăng gấp đôi sau mỗi tháng kể từ tháng 6 đến nay.

Theo Việt Hưng | The LEADer - Diễn đàn của các nhà Quản trị

==========
Các bạn trên Chợ Vin có liên minh với nhau để đẩy doanh số không nào? Nếu có thì inbox cho chúng tôi nhé.

Thương mại điện tử là gì? Lịch sử và vai trò của TMĐT ở Việt NamBạn đã từng thắc mắc về thương mại điện tử là gì chưa?. ...
31/10/2020

Thương mại điện tử là gì? Lịch sử và vai trò của TMĐT ở Việt Nam

Bạn đã từng thắc mắc về thương mại điện tử là gì chưa?. Trong thời buổi hiện nay, khi các thiết bị công nghệ đã quá quen thuộc với mọi người và thương mại điện tử cũng cùng với đó và phát triển. Tuy nhiên, không phải ai cũng để ý và biết trang thương mại điện tử là gì?. Bài viết này hãy cùng MarketingAI tìm hiểu khái niệm về thương mại điện tử, lịch sử thương mại điện tử và những điều cần biết xung quanh thương mại điện tử qua bài viết sau đây.

Định nghĩa thương mại điện tử là gì?
Hiện nay có rất nhiều những định nghĩa về thương mại điện tử được đặt ra. Theo định nghĩa của tổ chứ WTO thì “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử”. Còn tại Việt Nam cũng đã có nghị định của Chính Phủ về thương mại điện tử. Trong đó có định nghĩa giới thiệu về thương mại điện tử là:

“Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”

Hiểu theo một nghĩa rộng thì bất cứ một hoạt động thương mại nào được triển khai trên các phương tiện điện tử thì đều được gọi là thương mại điện tử. Tuy nhiên, đối với nhiều người dùng hiện nay thì thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đơn giản hơn tức là mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và internet.

Thương mại điện tử được thực hiện đối với các hoạt động truyền thống (chăm sóc sức khỏe, giáo dục,…), thương mại dịch vụ (dịch vụ pháp lý, dịch vụ tài chính,….) và đặc biệt thương mại hàng hóa (hàng gia dụng, quần áo,….). Tóm lại, thương mại điện tử đang dần trở thành một cuộc cách mạng có thể thay đổi hoàn toàn cách thức mua sắm của con người trong tương lai.

Lịch sử của thương mại điện tử
Như những điều mà chúng ta đã tìm hiểu để trả lời cho câu hỏi Thương mại điện tử là gì, chúng ta sẽ thấy rằng quả thực, thương mại điện tử là một lĩnh vực đầy tiềm năng và cần được khai thác. Nhưng có thể bạn chưa hề biết rằng thực ra thương mại điện tử đã xuất hiện từ khá lâu rồi. Lịch sử thương mại điện tử được bắt đầu từ khoảng 40 năm trước ở dạng sớm và thô sơ nhất. Cụ thể, dưới đây là tổng quan dòng thời gian về thương mại điện tử:

Năm 1969, CompuServe được thành lập

Công nghệ CompuServe được thành lập bởi tiến sĩ John R.Goltz, Jeffrey Wilkins và các sinh viên kỹ sư điện vào năm 1969, và ban đầu được xây dựng bằng cách sử dụng kết nối quay số (dial up).

Sau đó, vào những năm 1980, ComuServe đã giới thiệu một số hình thức kết nối email và internet sớm nhất tới công chúng và tiếp tục thống trị thị trường thương mại điện tử vào giữa những năm 1990.

Năm 1979 – Michael Aldrich phát minh ra mua sắm điện tử

Michael Aldrich – một nhà phát minh người Anh đã giới thiệu mua sắm điện tử vào năm 1979, hoạt động bằng cách kết nối TV (sau khi nâng cấp) với máy tính xử lý giao dịch qua đường dây điện thoại. Điều này giúp các hệ thống thông tin đóng có thể được mở và chia sẻ bởi bên ngoài để truyền dữ liệu an toàn. Công nghệ này chính là công nghệ nền tảng để xây dựng thương mại điện tử hiện đại.

Năm 1982 – Sàn giao dịch máy tính Boston ra mắt

Khi Boston Computer Exchange ra mắt vào năm 1982, đây là công ty thương mại điện tử đầu tiên trên thế giới. Chức năng chính của nó là phục vụ như một thị trường trực tuyến cho những người quan tâm đến việc bán máy tính đã qua sử dụng của họ.

Năm 1992 – Book Stacks Unlimited ra mắt thị trường sách trực tuyến đầu tiên

Charles M.Stack đã giới thiệu Book Stacks Unlimited là một cửa hàng sách trực tuyến được ra mắt vào năm 1992 – 3 năm trước khi Jeff Bezos giới thiệu Amazon. Ban đầu công ty đã sử dụng định dạng bảng thông báo quay số (dial up), nhưng vào năm 1994, trang web đã chuyển sang internet và hoạt động từ tên miền Books.com.

Năm 1994 – Netscape Navigator ra mắt dưới dạng trình duyệt web

Marc Andreessen và Jim Clark đồng sáng tạo Netscape Navigator như một công cụ duyệt web và chính thức công bố vào tháng 10 năm 1994. Trong những năm 1990, Netscape Navigator trở thành trình duyệt web được sử dụng chủ yếu trên nền tảng Windows trước sự nổi lên của những người khổng lồ hiện đại như Google.

Năm 1995 – Amazon và Ebay ra mắt

Jeff Bezos đã giới thiệu Amazon vào năm 1995 chủ yếu như một nền tảng thương mại điện tử cho sách.

Cùng năm đó, Pierre Omidyar đã giới thiệu AuctionWeb mà sau này trở thành eBay.

Kể từ đó, cả hai đã trở thành nền tảng bán hàng thương mại điện tử khổng lồ cho phép người tiêu dùng bán trực tuyến cho khách hàng trên toàn cầu.

Năm 1998 – PayPal ra mắt như một hệ thống thanh toán thương mại điện tử

PayPal được sáng lập bởi Max Levhin, Peter Thiel, Like Nosek và Ken Howery, xuất hiện vào cuối năm 1998 như một công cụ chuyển tiền.

Năm 1999 – Alibaba ra mắt

Alibaba ra mắt vào năm 1999 như một thị trường trực tuyến với hơn 25 triệu đô la tài trợ.

Đến năm 2001 thì công ty đã có lãi. Sau đó, nó tiếp tục biến thành một nền tảng B2B, C2C, B2C và vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày hôm nay.

Đặc điểm của thương mại điện tử là gì?
Dưới đây là những đặc điểm cơ bản của ngành thương mại điện tử mà có thể bạn cần phải biết.

Đáp ứng nhu cầu mọi lúc mọi nơi
Ngay tại thời điểm này, con người đã có thể mua hàng mọi lúc, mọi nơi. Chỉ cần một chiếc điện thoại kết nối internet, bạn có thể mua bất cứ thứ gì bạn mong muốn với vài cú click chuột.

Đáp ứng tức thời
Khách hàng khi đặt hàng qua các trang thương mại điện tử có thể nhận hàng ngay trong ngày. Một điểm yếu của thương mại điện tử từ trước đến nay là việc khi khách hàng đặt hàng xong sẽ phải chờ vài ngày mới có thể nhận được hàng. Còn đối với hình thức mua hàng truyền thống tại các cửa hàng vật lý thì khi đi mua hàng thì có thể ngay lập tức mang hàng về cùng. Tuy nhiên, trong tương lai, các công ty thương mại điện tử hoàn toàn có thể giải được bài toán này thông qua các chi nhánh tại địa phương. Sau khi nhận được đơn đặt hàng, các trang thương mại điện tử sẽ gửi yêu cầu của khách hàng tới cửa hàng gần nhà hoặc cơ quan của họ nhất. Phương pháp này ngay lập tức giải quyết được hai vấn đề của khách hàng: thời gian đợi hàng lâu và giá vận chuyển hàng cao.

Tính cá nhân hóa
Trong tương lai, tất cả các trang thương mại điện tử có thể phân biệt được khách hàng của họ thông qua những thói quen của chính khách hàng. Những trang web thương mại điện tử nhận được nhiều lượt người dùng nhất sẽ là những trang web có thể cung cấp cho khách hàng tính cá nhân hóa cao và nâng cao tính tương tác. Ví dụ, các trang sẽ sử dụng dữ liệu về thói quen click của khách hàng để từ đó tạo ra những danh mục động trên đường nhấp chuột của họ.

Theo Tô Linh | Theo Marketing AI - Chiến lược Giải pháp Digital Marketing

==========

Nếu bạn đã hiểu rõ về TMĐT rồi thì nhanh nhanh gia nhập cùng cộng đồng Chợ Vin nhé.

Address

Ho Chi Minh City
70000

Telephone

+84937056393

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when HBX VIỆT NAM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to HBX VIỆT NAM:

Shortcuts

Share