Tủ sách đời thường.

Call Directions Contact the business

Tủ sách đời thường. Đây đơn giản là chỉ là cái kệ sách dành cho mọi người. Bạn nào có truyện h

16/08/2019

Một người anh đã sưu tầm và chỉ "Tủ sách" đọc.
GIA ĐỊNH NGŨ HỔ TƯỚNG

1 . Nguyễn Văn Trương

Nguyễn Văn Trương( 1740 - 1810), danh tướng của Nguyễn Phúc Ánh và là một trong Ngũ hổ tướng Gia Định.

Ông là người huyện Lễ Dương (nay là huyện Thăng Bình), tỉnh Quảng Nam. Năm 1776 khi Nguyễn Lữ (một trong ba thủ lĩnh của phong trào Tây Sơn) đem quân vào Nam, lấy được thành Sài Gòn, đuổi chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy đến Trấn Biên (Biên Hòa), thì Nguyễn Văn Trương xin theo phò tá Nguyễn Lữ, và được cho giữ chức Chưởng cơ cai quản binh thuyền.

Trong khoảng 1777 – 1783, Nguyễn Ánh nhiều lần đem quân về chiếm lại Gia Định, nên ông cũng thường xuyên phải đụng trận với chúa Nguyễn. Có lần quân Tây Sơn thắng thế, Nguyễn Văn Trương cùng quân Tây Sơn cưỡi ngựa đuổi bắt chúa Nguyễn đang chạy bộ, đến đoạn đường hẹp đột nhiên có một cây cổ thụ lớn đã mục ruỗng đổ sập xuống chặn đường quân Tây Sơn làm ngựa không thể vượt qua được vì vậy mà chúa Nguyễn Ánh thoát nạn, từ sự kiện đó mà Nguyễn Văn Trương trong lòng đã cho rằng chúa Nguyễn là người có thiên mệnh.

Đến năm 1787, nhà Tây Sơn cứ lục đục nội bộ mãi, các tướng quay sang đánh giết lẫn nhau, chúa Nguyễn Ánh nhân đó mà chiếm lấy Gia Định, chán chường Nguyễn Văn Trương đem quân thân tín chạy qua đầu hàng chúa Nguyễn.

Tháng 3 năm Nhâm Tí (1792), nhân khi mùa gió Nam thổi mạnh, chúa Nguyễn sai Nguyễn Văn Trương cùng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Dayot và Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) ra đốt phá thủy trại của Tây Sơn ở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), rồi quay về an toàn.

Tháng 3 năm sau (Quý Sửu, 1793), chúa Nguyễn để con là Nguyễn Phúc Cảnh ở lại giữ đất Gia Định, sai Tôn Thất Hội cùng Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành đem bộ binh đánh Phan Rí (nay thuộc Bình Thuận). Còn chúa Nguyễn cùng Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh đem thủy quân đi đánh mặt bể. Đến tháng 5 thì đoàn chiến thuyền của quân Nguyễn vào cửa bể Nha Trang, rồi đánh lên Diên Khánh, phủ Bình Khang, sau lại đánh lấy phủ Phú Yên.

Năm Tân Dậu (1801), ngày 15 tháng Giêng, chúa Nguyễn sai Nguyễn Văn Trương, Lê Văn Duyệt chia làm hai đạo tấn công thuỷ trại của Tây Sơn ở Thị Nại đốt được hết cả tàu và thuyền của quân Tây sơn. Đây là trận thủy chiến dữ dội nhất, đáng được gọi là "võ công đệ nhất" trong thời trung hưng của nhà Nguyễn.

Ngày 7 tháng 6 năm (1801). Nguyễn Văn Trương hợp binh với chúa Nguyễn tại cửa Hàn (Đà Nẵng). Ngày 9, khoảng 4 giờ quân Nguyễn cả lục quân và thủy quân tiến ra Phú Xuân (Huế). Đến 8 giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm Tân Dậu (15 tháng 6 năm 1801), thành Phú Xuân mất vào tay chúa Nguyễn.

Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1802), vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh sai Nguyễn Quang Thùy tiến lên vây đánh lũy Trấn Ninh. Thế trận chưa nghiêng ngả về bên nào thì có tin thủy quân của Tây Sơn đã bị Nguyễn Văn Trương phá tan ở cửa Nhật Lệ (Quảng Bình), khiến quan quân nhà Tây Sơn hốt hoảng phải tháo chạy. Đây cũng là trận đánh quyết định cuối cùng từ đó nhà Tây Sơn trượt dài và sụp đổ. Nguyễn Ánh thống nhất đất nước và lên ngôi hoàng đế.

Năm Ất Sửu (1805), vua Gia Long cử ông vào cai trị miền Nam với chức vụ Lưu trấn thành Gia Định, thay cho Nguyễn Văn Nhơn. Năm 1808, ông được triệu về kinh đảm nhận chức vụ khác.

Năm Canh Ngọ (1810) ông mất tại chức, thọ 70 tuổi, được truy tặng là Thái bảo, thờ ở miếu Trung hưng công thần. Đời Minh Mạng, ông lại được truy phong là Đoan Hùng Quận công.

Con ông là Nguyễn Văn Vân, cũng là một viên tướng có tài, làm quan võ đến chức Tiền quân đô thống chế.

2 . Nguyễn Văn Nhơn

Nguyễn Văn Nhơn (1753-1822) là một trong ngũ hổ tướng Gia Định, phò tá chúa Nguyễn Phúc Ánh từ những buổi đầu. Ông cũng là tổng trấn đầu tiên của thành Gia Định triều Nguyễn.

Nguyễn Văn Nhơn sinh năm Quý Dậu (1753) tại làng Tân Đông, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang, về sau đổi thành xã Tân Đông thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp). Ông là con ông Nguyễn Quang (tước Minh Đức hầu) và bà Thị Áo.

Năm Giáp Ngọ (1774), lúc 21 tuổi, ông theo Tống Phước Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên, làm chức đội trưởng. Ông lại theo Tống Phước Hòa, được thăng cai đội.

Năm Đinh Dậu (1777), chúa Nguyễn Nguyễn Phúc Ánh khởi binh ở Long Xuyên (nay là Cà Mau), ông theo Dương Công Trừng đóng giữ ở Sa Đéc.

Năm Nhâm Dần (1782), bị quân Tây sơn bắt tại Thủ Thiêm (Sài Gòn), nhưng sau đó ông trốn thoát, sang Xiêm tìm chúa Nguyễn. Nhân lúc đó, chúa Nguyễn sai người về nước, ông liền trở lại hợp lực đánh chiếm đất Long Xuyên (Cà Mau).
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, phong ông làm Chưởng Chấn võ quân, tước Nhơn Quận công; giữ chức Lưu trấn Gia Định trấn đến năm 1805.

Cuối năm ấy, vua Gia Long bình xong Bắc Hà, ông dâng sớ điều trần 14 khoản để xin chấn chỉnh nhiều việc, như: Định lại các sắc thuế; trọng dụng người hiền; cải cách phong tục; biểu dương người trinh tiết; định phép khoa cử; chấn chỉnh nghiêm việc quan lại; phát chẩn cho dân nghèo… Về thuế má, ông tâu với vua rằng: “Các hạng lão tật của dân đồn điền, xin từ nay về sau giảm bớt thóc thuế cho 5 phần 10. Lại khe ngòi xưa nay không có thuế, gần đây bọn lại gian mưu lợi thu nộp cả, làm cho rối dân, xin tha cho”.

Về giáo dục, ông đề xuất “Trị nước thì gốc ở nhân tài, hành chính thì trước lấy giáo hóa. Vừa rồi trời gây đen tối, người ở Gia Định nghiên bút bỏ hoang. Nay non sông dựng lại, đất nước lặng trong, chính là lúc học giả được thành nghiệp. Vậy xin định lại giáo điều, khiến cho học trò có đường tiến tới để đáp lại tấm lòng thánh thượng muốn xếp qua để giảng học”. Các điều trần của ông, vua đều theo.

Năm Mậu Thìn (1808), chấm dứt giai đoạn Gia Định trấn để trở thành Gia Định Thành, ông được cử làm Tổng trấn và Trịnh Hoài Đức làm hiệp Tổng trấn. Vậy, chính ông là vị Tổng trấn đầu tiên ở miền Nam kiêm lãnh hai trấn là Bình Thuận và Hà Tiên cho đến 1812 thì bàn giao cho Lê Văn Duyệt.

Năm 1819-1820, Nguyễn Văn Nhơn được cử làm Tổng trấn Gia Định Thành một lần nữa.

Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng triệu ông về kinh đô Huế sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán, nhưng chỉ được một năm thì ông mất. Hay tin ông qua đời, vua cho nghỉ chầu 3 ngày, sai các quan đến dụ tế và ban tặng Thái bảo, thụy là Trung Cẩn; Cho 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc, 2 cây gấm thêu bằng kim tuyến, 3 cây gấm Tống và 30 tấm lụa.

Thực lục chính biên chép: “Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng:

Nguyễn Văn Nhơn là bậc đại thần huân cựu, là người trung thành cẩn hậu. Khi trẫm được tin ốm nặng, muốn thân tới thăm, nhưng nghĩ lễ vua tôi rất nghiêm, nếu cho phép nằm thì không dám yên tâm, mà gượng dậy thì lại mỏi mệt, cho nên trẫm thường sai hoàng tử đến thăm. Nay không may qua đời, thương tiếc vô cùng. Lại nói: Nhân bình nhật ăn mặc rất tiết kiệm, nay lễ tế điện trẫm muốn làm hậu”. Rồi đặc biệt sai xuất tiền kho, ủy cho đội Thị thiện hằng ngày làm cỗ nấu để cúng. Đến hôm đám đưa về Gia Định, vua ngự giá đến nhà, thân rót rượu cúng. Cho 100 binh đội hữu sai đưa đi. Đến ngày an táng, lại nghỉ chầu một ngày.

Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824), vua cho Chưởng hữu quân Nguyễn Văn Nhơn được thờ ở đền Trung hưng công thần và ân cấp 100 mẫu ruộng tự điền.

Năm Tân Mão (1831), ông lại được truy tặng làm Tráng võ tướng quân, Đô thống phủ Chưởng phủ sự, tước Kinh Môn quận công, thụy là Mục Hiến.

Ông có một người con gái gả cho vua Thiệu Trị là Lệnh phi Nguyễn Thị Nhiệm.

3. Lê Văn Duyệt

Lê Văn Duyệt (1763 hoặc 1764- 1832) là một nhà chính trị, quân sự lớn của Việt Nam. Ông cũng là người được biết tới nhiều nhất trong số Ngũ hổ tướng Gia Định khi tham gia phò tá chúa Nguyễn Ánh, trong cuộc chiến của ông này với quân Tây Sơn. Sau khi chiến tranh kết thúc và Nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một vị quan cấp cao trong triều đình và phục vụ hai triều vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) và Minh Mạng.

Lê Văn Duyệt sinh năm 1763 hoặc 1764 tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

Cha ông là Lê Văn Toại có tất cả 4 người con trai, Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả ông là người bị yếm hoạn, từ lúc sinh đã không có ngọc hoàn. Tương truyền vì điều này mà cha ông rất buồn dù cho con trai sinh trưởng và khoẻ mạnh hơn những đứa trẻ khác, một lần ông nhờ một vị thầy bói người Tàu giỏi coi tướng xem cho con trai; vị thầy tướng số sau khi trông mặt Duyệt thì cười nói " thằng bé này tuy bị yếm hoạn nhưng sau này làm nên nghiệp lớn, vợ con thê thiếp đều có đủ cả!". Nghe vậy cha ông mừng lắm mới để ông được ăn học chữ nghĩa đầy đủ, lại cho ông học thêm binh thư theo sở thích.

Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vàm Trà Lọt, có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Nhân dịp này Lê Văn Toại mới thỉnh cầu cho con là Lê Văn Duyệt được theo hầu chúa Nguyễn, chúa Nguyễn bèn thu nhận ông làm thái giám lo việc bảo vệ cung quyến để tạ ơn.

Theo Quốc triều sử toát yếu, thì trong trận đánh tại Đồng Văn ông bị quân Tây Sơn bắt. Tương truyền tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ có ý muốn thu dụng ông, nhưng Lê Văn Duyệt không theo, sau đó tìm cách trốn về được với Nguyễn Ánh, tháng 11 (âm lịch) năm 1784.

Qua nhiều lần bôn tẩu cùng chúa Nguyễn và hai lần cùng chúa sang Xiêm, Nguyễn Ánh nhận ra ông không chỉ là một thái giám tầm thường, mới nhận xét: " tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh" từ đó luôn giữ Duyệt bên mình, việc quân cũng đem ra bàn với ông.

Năm 1793, khi theo chúa đi đánh quân Tây Sơn ở Quy Nhơn, Duyệt lập được công lớn nên được phong Thuộc nội vệ úy thuộc quân Thần Sách.

Năm 1795, Lê Văn Duyệt cùng tướng Nguyễn Đức Xuyên đi cứu thành Diên Khánh bị quân Tây Sơn vây. Tướng Tây Sơn là Lê Phong giữ đồn Trung Hội chặt, quân Nguyễn không vượt được. Duyệt liền bàn với tướng Nguyễn Đức Xuyên rằng: "chia quân 2 đạo, tôi đánh thẳng sau đồn, cho giặc chống giữ, ông dẫn quân đến trước đồn đào nát cái lũy, lũy sụt, quân ta đánh trông hò reo mà vào, đồn thế nào cũng bị phá thôi".

Đức Xuyên chần chứ không quyết, Duyệt nói cứng rằng "đã có lệnh rồi, tội vạ gì tôi xin chịu cả". Đức Xuyên mới nghe theo. Quả nhiên quân Tây Sơn bị thua. Tin thắng trận báo về, Nguyễn Ánh liền tới nơi xem. Duyệt bước ra xin nhận tội giả làm lệnh chúa nhưng Nguyễn Ánh cười nói: "Đánh để thắng trận công ấy phải ghi thưởng, có tội gì".

Tháng 11 (âm lịch) năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: ...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt không coi (đó là) trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt.

Năm 1801 nổ ra trận quyết chiến giữa Tây Sơn và quân Nguyễn ở Thị Nại, Lê Văn Duyệt và tướng Võ Duy Nghi cùng dẫn quân đánh thẳng vào thuỷ trại quân Tây Sơn. Đại Nam liệt truyện chép: “Quân giặc giữ đồn núi chống đánh. Súng đạn như mưa, Di Nguy bị súng giặc bắn ngã xuống nước chết. Duyệt đánh càng khỏe. Vua thấy tướng sĩ nhiều người chết, và bị thương, cho tiểu sai dụ tướng sĩ hãy tạm lui để tránh mũi nhọn của giặc. Duyệt xin liều chết đánh, đối với tiểu sai nói rằng chỉ có tiến không lui, cứ vào không ra, vây quân kíp tiến bèn vào được cửa biển, thuận gió phóng hỏa, đốt hết chiến thuyền của giặc. Giặc cả vỡ, chết rất nhiều, trận này là ngày 16 tháng giêng”.

Trận này được xem là "võ công đệ nhất" của nhà Nguyễn và cũng là trận đánh lớn nhất, lừng lẫy nhất của ông.

Tháng 4 (âm lịch) cùng năm, ông Duyệt theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở núi Quy Sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801), ông cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc.

Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phước (hay Phúc) đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định.

Dọc đường, Lê Văn Duyệt đánh thắng nhiều trận, nhưng không kịp cứu Quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 (âm lịch) năm 1801. Xét công, chúa Nguyễn phong Lê Văn Duyệt làm "Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận công". Lại cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (tức 31 tháng 5 năm 1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm "Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công" để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang sông Linh Giang (tức sông Gianh ở Quảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa, và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn kể như bị diệt.

Tháng 3 (âm lịch) năm 1803, Lê Văn Duyệt phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Vách Đá (Quảng Nghĩa, nay là Quảng Ngãi), được vua khen thưởng. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, cha Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại được vua cho mời ra Huế ban khăn áo.

Ngoài ra để tưởng thưởng cho công lao của Lê Văn Duyệt, vua Gia Long còn gả một cung nữ cho ông là bà Đỗ Thị Phẫn. Sau này hai ông bà mất được táng cạnh nhau, lăng của ông bà tại Gia Định được gọi là lăng ông bà Chiểu.

Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách.
Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Lê Văn Duyệt bèn xin lệnh chém chết viên quan này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, nhà vua cho triệu Tổng trấn Gia Định Thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay, và cho Trương Tấn Bửu làm Phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm Hiệp trấn.

Tháng 2 (âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin vua Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ (Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo.

Năm 1815, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái tử. Khi ấy Lê Văn Duyệt ủng hộ con của hoàng tử Cảnh kế ngôi thái tử, phản đối truyền ngôi cho Minh Mạng. Nên về sau vua Minh Mạng rất căm giận ông, dù vậy khi ông còn sống vua Minh Mạng vẫn sợ uy ông mà không dám động tới.

Trên triều Lê Văn Duyệt không kiêng nể ai thường có tấu sớ kể tội các quan, nên triều thần nhiều người cũng căm giận ông mà sau này đồng loã với vua Minh Mạng tìm cách trả thù.
Tháng Giêng (âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều "nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân", được vua y cho. Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy. Khôi nể Duyệt là người rộng lượng lại xét xử nghiêm minh bèn ra xin đầu thú, Duyệt thấy Khôi là kẻ hữu dũng có thể kế thừa ý chí của mình bèn thu dụng và nhận làm con nuôi.

Tháng 9 (âm lịch), triệu Lê Văn Duyệt về triều. Sang tháng 12 (âm lịch), vua Gia Long cho đòi ông và Phạm Đăng Hưng vào cung lãnh di chiếu, tôn Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (tức vua Minh Mạng). Đồng thời nhà vua cho ông Duyệt cai quản quân 5 dinh Thần sách.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1822, vua Minh Mạng sai Lê Văn Duyệt điều động quân và dân (được hơn 39.000 người) để tiếp tục đào kênh Vĩnh Tế là dự án còn dang dở từ thời Gia Long (đến tháng 5 âm lịch năm 1824 thì xong).

Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, triều đình truy tặng ông chức "Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công", thụy là "Oai Nghị".

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng cho bãi chức Tổng trấn Gia Định Thành, và đổi 5 trấn ra thành 6 tỉnh, là: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. Lại đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, bố chính, Án Sát, Lãnh binh như các tỉnh ở ngoài Bắc. Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm Bố chính ở Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì bị bức, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại.

Vua Minh Mạng nhân đó cho quan quân đánh dẹp khởi nghĩa Lê Văn Khôi, dẹp xong rồi thì cho đình thần hoạch tội ông. Minh Mạng phán rằng: " Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" (Chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp)". Án này vạ lây sang những người thân tín với ông trong đó có gia đình tướng Lê Chất. Riêng vợ ông bà Đỗ Thị Phẫn thì được tha vì ông là người yếm hoạn, chiểu theo luật thời ấy bà không bị bắt tội.

Năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt.

Tháng 2 (âm lịch) năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội. Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 (âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn Văn Thành (là Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công) và Lê Văn Duyệt (là Chưởng tả quân Đại tướng quân), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế.

4. Nguyễn Huỳnh Đức

Nguyễn Huỳnh Đức (1748 - 1819) là một trong Gia Đinh ngũ hổ tướng, khai quốc công thần triều Nguyễn và từng là tổng trấn Bắc Thành và Gia Định.

Ông tên thật à Huỳnh Tường Đức, cha và ông nội của ông đều là quan chức phụng sự chúa Nguyễn. Tương truyền ông là người có dung mạo khôi ngô, lại có sức khoẻ, dũng cảm hơn người.

Năm 1781, sau khi nhà Tây Sơn khởi nghĩa, chúa Nguyễn Ánh phải lên đường bôn tẩu, ông Nguyễn Huỳnh Đức gia nhập quân Đông Sơn lãnh đạo bởi Đỗ Thành Nhơn chống chọi với quân Tây Sơn. Về sau Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Ánh giết chết, nhưng Nguyễn Huỳnh Đức vẫn được lưu dùng.
Năm 1782, chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh bại ở Định Tường, quân sĩ chạy tan tác cả, chúa chẳng may bị sa lầy. Ai cũng lo chạy thoát thân, chỉ có Huỳnh Đức là quay trở lại cứu chúa. Lúc ấy trời sập tối , quân Tây Sơn sợ có phục binh nên không truy đuổi nữa. Cả đêm, vì kiệt sức mà Nguyễn Ánh nằm gối đầu lên đùi ông mà ngủ say, Huỳnh Đức thức trắng đêm, ngồi bất động như tượng đá canh cho chúa ngủ. Cảm động vì sự trung thành và tận tuỵ của ông mà chúa Nguyễn Ánh ban quốc tính họ Nguyễn cho ông, đối đãi ông như là thành viên của hoàng tộc.

Năm 1783, ông dẫn quân đánh nhau với quân Tây Sơn ở Đông Tuyên, thua trận bị bắt. Chủ tướng quân Tây Sơn lúc đó là Nguyễn Huệ thấy ông là người hữu dũng bèn thu dụng ông. Nguyễn Huỳnh Đức chịu theo, nhưng có lời giao kết là ông chỉ đánh quân Trịnh không đánh quân chúa Nguyễn.

Năm 1786, ông theo Nguyễn Huệ ra bắc đánh quân Trịnh, được giao làm phó tướng của Nguyễn Văn Duệ. Duệ là tâm phúc của vua Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, có ý không phục Nguyễn Huệ. Ông bèn dụ Duệ cùng mình theo đường tắt lẻn trở về Quy Nhơn với Nguyễn Nhạc, dọc đường nhân khi quân Duệ sơ hở ông trốn sang Vạn Tượng rồi chạy tiếp sang Xiêm La tìm Nguyễn Ánh, nhưng lúc này Nguyễn Ánh đã về Gia Định rồi, vua Xiêm muốn giữ ông lại, nhưng ông kiên quyết về với chúa Nguyễn.

Năm 1799, ông được thăng chức Chưởng quản Hữu quân dinh, ra đánh lấy được Phan Rí, rồi Thị Nại (Bình Định). Năm sau, ông dẫn quân đánh hạ được thành Quy Nhơn, rồi được cử vào Nam cai quản xứ Định Tường. Sau khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm thành Phú Xuân, giao ông trấn giữ thành Quy Nhơn.

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, Nguyễn Huỳnh Đức được phong Quận công.

Ngày 9 tháng 9 năm Kỷ Mão (tức 27 tháng 10 năm 1819), ông mất khi đang tại chức, thọ 71 tuổi, an táng tại nơi quê nhà và được thờ tại miếu Trung hưng công thần tại kinh đô Huế.
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được truy tặng là Kiến Xương Quận công. Ông có 4 người con trai đều là võ quan, trong số đó có 2 người là rể của vua Gia Long

5. Trương Tấn Bửu

Trương Tấn Bửu (1752 - 1827), có tên khác là Trương Tấn Long; là một danh tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lịch sử Việt Nam. Nhờ lập được nhiều công lao, ông được phong tước Long Vân Hầu và được người đương thời liệt vào Ngũ hổ tướng Gia Định.

ông là người làng Hưng Lễ, tổng Bảo Thạnh (thuộc xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ngày nay). Ông xuất thân từ gia đình phú nông, có bảy anh em. Là người hào hiệp, giỏi võ nghệ có sức đánh hổ, dù chỉ học ít chữ nghĩa nhưng ông cũng là người có tư chất thông minh, trong quá trình làm quan, được Gia Long đưa thầy đến dạy chữ, lại miệt mài nghiên cứu binh thư, sách vở thánh hiền, về sau ông còn biết sáng tác cả thơ phú...

Vào một đêm tháng 10 năm Đinh Dậu (1787), đoàn chiến thuyền của Chúa Nguyễn Ánh bị quân của Tây Sơn truy đuổi từ Mỹ Lồng rẽ vào sông Hương Điểm. Bị lạc đường Nguyễn Ánh vài người thân cận bỏ thuyền lên bờ tới xóm Cây Da, xã Hưng Lễ. Họ gõ cửa nhà ông Trương Tấn Khương (thân phụ của Trương Tấn Bửu) để xin tá túc. Vốn thương người, cha con ông Trương Tấn Khương liền mời khách vào đãi cơm và cho ngủ nhờ. Nguyễn Ánh lưu lại đây một thời gian, cùng làm ruộng và sống rất thân tình với gia đình họ Trương. Trương Tấn Bửu là người có mắt tinh đời, nên hoài nghi, gạn hỏi. Nguyễn Ánh thấy Bửu là người tài giỏi lại trung thực có thể tin cậy được nên thú nhận thân phận của ông. Trương Tấn Bửu bèn xin theo phò chúa Nguyễn.

Tháng 6 năm Canh Tuất (1790) Long Vân Hầu được làm Hậu quân, Hậu chánh trưởng chi, rồi lại đổi qua Tiền quân. Ông đánh nhau với nhà Tây Sơn ở Qui Nhơn, lập được nhiều chiến công, tháng 2 năm Đinh Tỵ (1797), ông được phong làm Tiền quân Phó tướng, một lượt với Phan Tấn Huỳnh.
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi (Gia Long), phong ông làm Chưởng dinh, quản lĩnh đạo quân Bắc Thành.

Đầu năm Bính Dần (1806), bọn cướp biển “Tề ngụy hải phỉ” (giặc Tàu Ô) vốn là quân "phản Thanh phục Minh" trước được nhà Tây Sơn dung dưỡng, sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ thì họp nhau lại mưu chống nhà Nguyễn khôi phục lại nhà Tây Sơn mới đem ba mươi thuyền tới đảo Huê Phong để cướp phá đồn Phượng Hoàng. Long Vân Hầu thân chinh đánh đuổi bọn cướp. Dẹp giặc xong, ông liền được dời về Đế đô nhậm chức Trung quân Phó tướng. Rồi ngay sau đó lại ra quân đánh giặc cướp suốt. Ông đánh nhau với giặc Tàu Ô ba mươi sáu trận. Ông bình được bọn quần khấu cho dân an cư lạc nghiệp. Dân các trấn kể trên rất kính phục, luôn tưởng nhớ đến công đức của ông. Vua ban thưởng cho cùng ba quân vạn quan tiền và ban ân điển cho tướng sĩ trận vong.

Tháng 11 năm Canh Ngũ (1810), Long Vân Hầu được triệu về giữ chức Tổng trấn thành Gia Định thay Nguyễn Văn Nhân.
Năm 1816, ông đốc suất đắp thành Châu Đốc rồi được điều về Huế làm Trung quân phó tướng.

Năm Nhâm Thân (1821), ông lại được cử làm Phó Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai.

Năm Nhâm Ngọ (1822), ông được thăng Chánh nhất phẩm, thân phụ ông cũng được vua Minh Mạng ban sắc truy phong là Nghiêm oai tướng quân, Trung quân Thống chế và mẹ ông cũng được truy phong vào hàng mệnh phụ phu nhân.

Năm Quý Mùi (1823), theo lệnh của Lê Văn Duyệt, ông chỉ huy khoảng 35.000 quân và dân lo nạo vét kênh Vĩnh Tế cùng với Thoại Ngọc Hầu, rồi chẳng bao lâu sau ông bệnh, xin về hưu vào ngày 17 tháng 11 năm Ất Dậu (1825).

Tuy hưu trí, nhưng ông được vua Minh Mạng cho hưởng lương bổng đầy đủ. Ngày 2 tháng 8 năm 1827 (10 tháng 6 âm lịch năm Đinh Hợi) ông mất, thọ 75 tuổi. Chánh tướng Lê Văn Duyệt trông coi việc chôn cất cho Phó tướng Trương Tấn Bửu tại làng Phú Nhuận (quận Phú Nhuận, TPHCM ngày nay).

-----------------------------

Bài và ảnh của Ấm Chè - Phan Thanh Nam

15/08/2019

Lý Thường Kiệt đại chiến Tống Quốc trên Như Nguyệt Giang.
Nếu ai đó hỏi tôi: “Vì sao tôi yêu Sử Việt thời phong kiến?”, tôi sẽ không ngần ngại nói rằng: “ Thời đó, các anh hùng dùng chân lực chiến đấu chứ không dùng sự tô vẽ của người khác mà thành danh nhưng thời sau này!”. Bạn không tin tôi? Được! Tôi sẽ kể bạn nghe về một trong số những hổ tướng từng khiến Trung Hoa sợ khiếp vía nhé!
Người này, đánh Khâm Châu, Ích Châu và cả Ung Châu của Đại Tống. Thắng vang dội! Nhưng trên hết, là trận liên hoàn kế trên con sông có cái tên mỹ miều: Như Nguyệt.
Phải rồi! Tôi đang định kể về trận thư hùng của hai con hổ trên dòng Như Nguyệt giang thời Tống – Lý.
Và dĩ nhiên, người tôi đang nói chính là Thái Úy Lý Thường Kiệt!
Lý thái úy, thật ra tên là Quách Tuấn, tự Thường Kiệt. Ông là con của Thái úy Quách Thịnh Dật (Tế Giang, nay là Hưng Yên), sau trận Đả Tam Châu (Ung, Khâm, Ích), ông được ban Quốc Tính (theo họ của vua). Nhưng, có mấy người từng biết ông đã tịnh thân năm ông hai mươi sáu tuổi??? Đó là câu chuyện khác, còn lần này, tôi chỉ muốn nói về liên hoàn kế...
Thời ấy, Đại Việt đã may mắn có vị thiên binh thần tướng này mà làm rạng danh triều Lý. Nói không ngoa, ông làm đại tướng cho ba triều nhà Lý, đến năm sáu mươi vẫn còn là nổi khiếp sợ cho Đại Tống. Và cũng vì sự uy dũng cũa ông, khiến các nước đang hăm he Đại Tống có thêm sự tự tin, cuối cùng là sự diệt vong nhà Tống vào tay nhà Nguyên – Mông.
Thôi không dài dòng nữa, chuyện là thế này.
Sau khi thua đau, thất trận, thất thành về tay Lý Thường Kiệt. Hai dũng tướng của Tống Bang là Trương Thủ Tiết và Tô Giám vong mạng. Tất cả lý do trên khiến Đại Tống đương kim hoàng thượng nổi điên, ruột đau như cắt, quyết đánh Đại Việt cho tan tác nên cho gọi Quách Quỳ, phó đô thống đang thủ nơi biên ải phía bắt, chống lại Khiết Đan, Kim… về Khai Phong, Biện Kinh nhận lệnh dẫn đại quân nam hạ chinh phạt nước Đại Việt. Có lẽ đây là nước cờ sai lầm nhất trong lịch sử Đại Tống.
Quách Quỳ là một lão tướng thiện chiến, ông ta cho chia quân làm ba đường mà nam hạ phạt Việt. Phó tướng Triệu Tiết dàn quân cách đại quân gần mười lăm cây số theo chiều ngang. Đại quân do đích thân Quách Quỳ chỉ huy, tướng tiên phong là Miêu Lý. Còn một cánh quân nữa, theo đường thủy mà vào do Hòa Mâu và Dương Tùng Liên theo cửa sông Đông Kênh tiến vào Như Nguyệt Than (bến Như Nguyệt). Ba cánh quân này, theo giao ước, sẽ hội quân rồi mới vượt sông mà đánh.
Trước đó hơn một tháng, Lý Thường Kiệt đã khảo sát địa hình nơi đây. Tự thân lặng xuống nước, rồi khi trồi lên, không giấu giếm mà ngã người ra cười lớn:
_ “Tốt! Tốt! Ha ha ha…”
Cười sảng khoái xong, Thường Kiệt lên bờ, chỉ nay vào nơi vừa trầm mình rồi hỏi lớn với ba quân:
_ “Diệt Đại Tống Kiêu Binh, không phải nơi đây thì còn là nơi đâu?”
Nói rồi, căn dặn ba quân, cho làm hàng rào chông nhọn bằng tre cắm trên bờ, chông bằng gỗ cứng chắc thì chôn dưới bùn đáy sông, đầu chông nhọn hoắc. Làm đến ba tầng chông, men theo bờ sông trải dài hơn hai mươi cây số. Ở giữa đoạn, đột nhiên lại ra lệnh để trống một khoản hơn trăm mét.
Song song với việc dựng hàng phòng ngự, Thường Kiệt đã có một kế sách chống Tống.

Canh ba, Lý Thường Kiệt bước đến lều của một vị tướng giỏi thủy chiến, cũng là người kết bái kim lang với ông. Ra hiệu cho hai lính canh không cần thi lễ, ông tiến vào trong. Bên trong, người kia vẫn còn dùng đèn dầu soi chiến đồ, không hay biết có người đang đi vào.
Thường Kiệt lên tiếng:
_ “Sao còn chưa đi nghỉ?”
Giật mình, người trong lều ngước lên, ngẩn người vài giây rồi vội vàng thi lễ:
_ “Tham kiến Đại Soái, Kế Nguyên không nghe quân canh báo lại nên không biết đại soái ghé qua. Kế Nguyên không kịp nghênh tiếp. Xin đại soái tha tội!”
Thường Kiệt cười lớn:
_ “Ây! Nào có tội?!!! Là lão ca qua đột xuất. Muốn tìm đệ để giải nỗi lo. Đệ mau đứng lên, cùng lão ca thương lượng một chút!”
Người trẻ tuổi kia đứng lên, nhìn Thường Kiệt rồi hỏi:
_ “Phải chăng đại Soái lo lắng về thủy quân Đại Tống? Lão hồ ly Quách Quỳ cho Hòa Mâu và Dương Tùng Liên làm thống lãnh, nếu không chặn được chúng, Đại Việt nguy to. Hai gã này đều là loại mãng xà thành tinh, kinh nghiện thủy quân dồi dào. Chỉ sợ…”
Thường Kiệt nhíu mày rồi cười lớn…
_ “Quả thật trong thiên hạ, chỉ có đệ, duy nhất chỉ có đệ mới hiểu ta thôi đó Kế Nguyên à. Cho nên, ta đến đây giờ này là muốn đệ cho ta mượn một thứ chống thủy binh Đại Tống. Đệ có đồng ý không?”
_ “Giúp được đại soái, cứu được Đại Việt, Kế Nguyên sao lại chối từ? Nhưng Kế Nguyên không hiểu, Kế Nguyên có vật gì có thể phá thủy quân của địch?”
_ “Ta muốn mượn của đệ lá gan!”
Lý Kế Nguyên giật mình, trợn mắt thầm suy nghĩ: “Là sao? Sao lại là lá gan?” rồi sau đó hỏi Thường Kiệt:
_ “Kế Nguyên không hiểu? Cái mạng của Kế Nguyên, Kế Nguyên không màng, nhưng lá gan là sao?”
Thường Kiệt nghiêm mặt nói:
_ “Vậy đệ có cho mượn không?”
Kế Nguyên bặm môi một cái rồi dỏng dạt:
_ “Có! Dù không biết để làm gì, nhưng Kế Nguyên đồng ý!”
Lý Thường Kiệt bật cười:
_ “Hahahaha Kế Nguyên đúng là Kế Nguyên! Vậy lão ca ca cảm ơn đệ!”
Kế Nguyên ngẫn người, không hiểu gì hết. Đột nhiên, Thường Kiệt ngồi lên cái trường kỷ, dáng vẻ uy nghiêm, một tay chống lên đùi, tay kia chỉ thẳng hướng của Kế Nguyên, rồi nói lớn:
_ “Thủy sư đô đốc Lý Kế Nguyên nghe lệnh!”
Kế Nguyên lật đật quỳ xuống, ngẩn mặt nhìn lên rồi dỏng dạt:

_ “Mạc tướng nghe lệnh!”
_ “Bổn Soái lệnh cho Lý đô đốc thống lĩnh toàn bộ thủy binh Thăng Long, sông Cầu ra nghênh địch tại cửa Đông Kênh. Trận này chỉ được phép thắng, không được bại. Ta mượn lá gan của đệ, là muốn đệ thay ta tử chiến Đông Kênh Môn.”
_ “Mạc tướng tuân lệnh!”
Thường Kiệt gật gù, rồi lại ngồi bệt xuống đất, vỗ vai Kế Nguyên vẫn đang quỳ:
_ “Tốt! Đệ có rượu không? Lão ca muốn uống.”
_ “Dạ!”
Hai người ngồi uống vài tuần rượu. Rồi Thường Kiệt về lại lều của mình. Khi ra ngoài, Thường Kiệt nhoẻn miệng cười, tự lẩm bẩm:
_ “Đệ phải thành công! Đệ còn phải về làm cái chức phò mã như Thân Cảnh Phúc nữa chứ! Đại Việt sẽ chờ đệ!”
…
Khi đến bến Như Nguyệt, y theo kế hoạch đã định, Quách Quỳ cho hạ trại, chờ thủy binh đến hội quân. Tướng tiên phong Miêu Lý đi thám thính về báo:
_ “Bẩm đại soái, tên họ Lý kia cho dựng tầng tầng lớp lớp chiến lũy trên bờ sông. Tuy nhiên có khúc nhỏ gần đây không thấy lũy, không có quân Việt. Chắc chưa kịp làm chiến lũy. Mạc tướng xin mang theo một đội nhỏ bắt cầu phao, tiện đường cho quân ta phá thế quân Việt.”
Lão hồ Ly Quách Quỳ nhíu đôi lông mày, rồi nhắm mắt lại. Sau một hồi, lão mở mắt nói:
_ “Có mai phục! Gã họ Lý kia là một nhân trung chi thần, sao có thể để lại con đường cho ngươi thấy?”
Miêu Lý thưa:
_ “Chắc không phải. Mạc tướng thấy trên bờ có nhiều gỗ làm chiến lũy, nhưng chưa ai làm, có lẽ chưa kịp làm. Mạc tướng xin đi làm cầu, chỉ làm cầu thôi, nếu thuận lợi mới tính chuyện sang sông!”
Quách Quỳ trong lòng băn khoăn, lưỡng lự. Nhưng rồi cũng đồng ý cho Miêu Lý đi.
_ “Được, ta cho ngươi đi, chỉ làm cầu, nhất định không được tiến quân vượt Như Nguyệt Giang.”
Miêu Lý vui vẻ đáp to:
_ “Mạc tướng tuân mệnh!”
…
Sau khi sửa soạn, Miêu Lý cùng Vương Tiến tiến hành làm cầu phao. Làm xong cầu phao, thấy một toán quân nhỏ phía Đại Việt đang chạy đến định phá cầu, Vương Tiến muốn quay về Soái Doanh báo lại với Quách Quỳ thì Miêu Lý can:
_ “Ây! Chỉ một toán quân nhỏ, ta sẽ mang theo Thụy Lôi và hai ngàn quân sang bên kia dẹp. Ông ở đây giữ cầu! Đại Soái có trách, tôi gánh!”
Nói xong, Miêu Lý làm đúng như vậy. Hai ngàn quân của Miêu Lý và Thụy Lôi đánh cho toán quân Đại Việt đang mon men phá cầu chạy tan tát. Miêu Lý thấy thế thắng nên thúc quân đánh thẳng nhằm tiến vào Thăng Long.
_ “Lũ thất phu Đại Việt thua rồi! Chúng ta cùng nhau tiến thẳng Thăng Long! Thắng thì phong hầu bái tước, thua thì vẻ vang thu binh. Sát!!!”
Thụy Lôi vốn muốn lập công, thúc quân đi nhanh. Miêu Lý loanh hoanh nhìn tìm xem ai là Lý Thường Kiệt nên ngừng lại phía sau. Đang dáo dát, bất ngờ cả đoàn người ngựa bị tấn công. Miêu Lý la lớn:
_ “Có mai phục! Có mai phục! Mau rút khỏi đây!”
Miêu Lý quay ngựa, chạy về hướng cầu phao thì bất ngờ bị chặn lại, phải cố hết sức mở đường máu mà chạy. Bỏ mặc Thụy Lôi cùng đại đa số quân binh mà hắn mang sang ở lại núi Thất Diệu.
…
Thụy Lôi hô to:
_ “Rút quân! Mở đường về sông Như Nguyệt!”
Nhưng đã muộn, từ núi Thất Diệu đến sông Như Nguyệt nào có gần.
Lúc này, trên đỉnh núi, có một vị tướng d**g ngựa từ tốn xuống trận, Thụy Lôi thoáng thấy khí thế người này, thất kinh. Nhìn lại quân mình, còn không quá trăm người. Hắn lắc đầu ngao ngán, rồi thở dài: “Ta trúng phải quỷ kế rồi! Phen này, đành liều mạng vậy.”. Đoạn, hắn chỉa mũi thương về phía người trên núi thong thả d**g ngựa xuống:
_ “Kẻ đến là ai?”
Người kia, nhếch mé cười rồi đáp:
_ “Ta là người đã trảm Trương Thủ Tiết, chắc ngươi có nghe tên ta!”
_ “Lý…Lý Thường Kiệt…??? Người là Lý Thường Kiệt?”
Thường Kiệt cười to, rồi đáp lớn:
_ “Không giống sao?”
Thụy Lôi bủn rủn tay chân, hắn đã nghe qua cái danh của Lý Thường Kiệt. Giờ đây, trước mặt hắn là một đại hán cao lớn, mặt đẹp như ngọc, lông mày rậm, không có râu, hoàn toàn không phải là một lão già gần sáu mươi niên kỷ, cưỡi con tuấn mã uy nghiêm, tay cầm đại đao thong d**g mà tiến. Thường Kiệt mà hắn thấy, quá khác so với suy nghĩ của hắn. Không còn cách nào, hắn buộc phải chiến. Hắn gào lớn và thúc ngựa chạy về phía Thường Kiệt.
_ “Lão tử liều chết với ngươi! Sát!!! Sát!!!”
Ngân thương cũa gã chưa kịp chạm vào người của Lý Thường Kiệt, một cơn đau nhói đã làm cho hắn khựng lại. Không kịp cất lên một tiếng, thủ cấp của hắn đã rơi xuống đất. Quân sỹ Đại Việt reo hò khi thấy chủ tướng chỉ một đao tung ra, thủ cấp của địch đã nhanh chóng rơi khỏi cổ.
Trảm xong Thụy Lôi, Thường Kiệt hô lớn:
_ “Truy bắt Miêu Lý!”
Ba quân hô hào truy đuổi.
…
Miêu Lý chạy gần tới bờ sông, thất kinh hồn vía khi thấy cầu phao đã bị hủy. Nguyên lúc hắn cùng Thụy Lôi mải truy sát quân Việt, Vương Tiến thấy không ổn, cho quân quay về xin lệnh của Quách Quỳ. Nhân cơ hội đó, phục binh của Đại Việt phá hủy cầu phao, chờ Miêu Lý quay lại mà bắt sống.
Miêu Lý cố sống cố chết đánh mà hồn vía thì thất điên bát đảo.
Trong lúc đó, Quách Quỳ nghe tin từ Vương Tiến, giật mình, đánh rơi cả ly rượu đang cầm, gầm lên môt tiếng:
_ “Ngu!!!”
Rồi ra lệnh dùng bè lớn đổ quân qua mang Miêu Lý về.
_ “Vương Tiến, ngươi mau sang bờ bên kia xách cái thằng ngu đó về đây! Không thì Đại Tống ta mang cái nhục này thay hắn!”
Vương Tiến y lệnh, mang theo từng tốp quân, dùng bè qua sông, hòng cứu Miêu Lý.
Phần Miêu Lý, thấy có viện quân nên càng đánh càng hăng, cuối cùng cũng đến được bờ sông, hai hàng nước mắt tuôn ra. Vương Tiến thấy vậy nói:
_ “Miêu tướng quân, mau theo viện quân qua sông trước, tôi đoạn hậu rồi theo sau.”
Miêu Lý lên bè, đi trước về bên trại Quách Quỳ. Vương Tiến vừa leo lên bè, thì từ trên bờ một mũi tên bay thẳng đế ghim ngay sau gáy. Hắn gục xuống.
Người vừa xạ tiễn là hoàng tử Hoằng Chân. Một trong hai vị hoàng tử theo chân Lý Thường Kiệt ra trận.
Bên kia sông, Quách Quỳ trông thấy thế, ruột gan như lửa. Cho truyền lui binh. Vào trướng, cho xử trảm Miêu Lý ngay lập tức. Quách Quỳ chỉ thẳng mặt Miêu Lý:
_ “Ta vì quốc thể Đại Tống mà mang người về thi hành quân pháp. Ngươi! Vì cái đồ ngu nhà ngươi mà hôm nay quân ta thua thảm, còn mất đi một tướng giỏi. Ngươi đáng phải chết! Mau lôi hắn ra trảm!”
…
Đã hơn hai mươi ngày, bóng dáng quân thủy chưa thấy, Quách Quỳ chỉ biết ngửa mặt thầm mắng: “Hai cái tên Hoàng Mâu và Dương Tùng Liên hành quân chậm trễ, làm ta lở mất thế bất ngờ, quân Việt cứ thủ mà không công cũng khó. Ây!!! Đúng là hai tên khốn kiếp. Lão tử chắc chắn sẽ báo lại để thánh thượng trị tội các người.”.
Phía Triệu Tiết, quân sỹ lại thấy quá an nhàn, chỉ biết canh lương, vận lương cho Quách Quỳ. Ngày qua ngày đều yên ổn. Chính Triệu Tiết cũng sốt ruộc chờ tin thủy binh để cùng hội quân công phá Thăng Long.
Cả Quách Quỳ lẫn Triệu Tiết đều không hay biết, thủy binh mà họ chờ, đang phơi thây quá nữa trên cửa Đông Kênh, nơi mà Lý Kế Nguyên đang dùng hỏa công, thủy chiến… quyết chiến Hòa Mâu và Dương Tùng Liên.
…
Sau chín trận, thế giằng con đã gần tan biến. Thủy quân Đại Việt đang dần trở nên chiếm thế thượng phong. Lý Kế Nguyên ngồi bên mạn thuyền, thở dốc, nói cùng các tướng sỹ:
_ “Trước khi ra trận, Đại Soái có dặn, quân ta chỉ được phép thắng. Thế nên trận thứ mười tới này, ta phải cố hết sức đánh cho xong. Quân địch đã yếu thế rồi, sỹ khí cũng giảm. Ta phải quyết tử một phen, thắng thì tha hồ truy sát, thua thì buộc chúng cộng tử…”
Rồi sau đó, Lý Kế Nguyên cho quân lên hai bên bờ sông, chất rơm rạ, vật dễ cháy men theo hai bên. Song song đó, cho thật nhiều thuyền con mang theo vật dẫn hỏa giấu trên bờ, chờ cho quân địch qua ổ mai phục thì nổi lửa.
Chiều ngày thứ ba mươi bảy, quân Lý Kế Nguyên giả thua, dẫn dụ đại quân của Hòa Mâu và Dương Tùng liên vào sâu trong cửa Đông Kênh. Sau đó y theo kế hoạch, dùng hỏa công.
Hòa Mâu và Dương Tùng Liên sau hơn một tháng, chiến đấu với Lý Kế Nguyên đã mười trận, cũng có ý quyết chiến một phen, cuối cùng trúng kế.
Đang chưa biết làm thế nào, cả hai nghe tiếng la lớn:
_ “Hỏa thiêu Thủy binh Đại Tống!”
Rồi sau đó, bốn bề nổi lửa. Quá hỏang loạn, Hòa Mâu và Dương Tùng Liên nhanh chân chạy theo mũi thuyền nhảy xuống nước bơi vào bờ, xuyên qua tường lửa mà chạy. Bất ngờ nghe tiếng cười quen thuộc, cả hai giật mình. Chính là Lý Kế Nguyên.
Lý Kế Nguyên xuống ngựa, quăng luôn cặp trường kiếm trong tay mà lao vào đánh tay không cùng Hòa Mâu và Dương Liên Tùng. Cả ba vần nhau một hồi lâu, Dương Liên Tùng bất ngờ bị Lý Kế Nguyên nâng lên rồi thả rơi xuống ngay đầu gối. Từ miệng hắn, máu tươi phun ra, xương sống hắn bị đầu gối Lý Kế Nguyên làm cho bị gảy lìa. Dương Tùng Liên tử trận. Hòa Mâu thấy vậy, vội vàng chạy đi nhưng đã bị quân Việt chặn lại. Hắn khụy xuống, Lý Kế Nguyên cho trói lại, mang về trại, dùng đầu hắn tế vong linh các tướng sỹ Đại Việt tử trận.
Sau khi đại thắng, Lý Kế Nguyên thở mạnh một hơi rồi ngủ một mạch hơn hai ngày. Sau đó cho quân xuôi theo dòng, về hội quân cùng Lý Thường Kiệt.
…
Về phần quân Quách Quỳ, chờ đợi ròng rã hơn ba mươi ngày không thấy bóng dáng thủy quân, lão bèn cho đóng hơn hai mươi chiếc bè lớn, đưa quân qua sông với ý đồ muốn đánh nhanh thắng nhanh. Mỗi đợt năm trăm quân sang sông, bè lại quay về đưa tiếp. Thế nhưng, một mặt vừa phải phá hàng rào chiến lũy, một mặt vấp phải thế phòng thủ quyết liệt của quân Việt, kế hoạch của Quách Quỳ lại tan theo mây khói. Lão đưa quân về thế thủ, kiên quyết chờ tin thủy binh.
Ròng rã công công, thủ thủ mà không có kết quả, năm vạn binh của Quách Quỳ gần như mất hết nhuệ khí. Bản thân chủ tướng Quách Quỳ cũng đôi phần chán ngán. Lão than thở: “Hay da!!! Nếu như thủy binh ta mà đến kịp, há chẳng phải tốc chiếc tốc thắng, công phá Thăng Long rồi hay sao?”
Gần mười ngày nay, trại quân phía Bắc Nhu Nguyệt chỉ biết đợi. Quách Quỳ thầm nghĩ: “Thôi thì coi như quân ta nghỉ ngơ, đợi cơ hội qua sông.”
Còn về quân nhà Lý, Lý Thường Kiệt triệu tập các tướng lại mà hỏi:
_ “Các tướng cho ta hỏi, cái hành động của quân Tống đang làm thì gọi là gì? Có phải là xâm lăng không? Đất này là đất của ai?”
Chúng tướng hô lớn:
_ “Đây là đất của thiên tử Đại Việt, là đất của con dân Việt!!!”
_ “Vậy chúng ta là con dân Đại Việt, có thể vong thân báo quốc không?”
Tiếng hô đồng thanh vang lên:
_ “Nguyện xả thân!”
_ “Được! Tốt lắm! Bổn soái muốn tìm hai người không sợ chết, quyết tử chiến trên Như Nguyệt Giang, đại chiến với năm vạn đại quân của Quách Quỳ. Ta chỉ có thể giao cho một vạn quân tinh nhuệ! Ai không sợ chết thì đi, đi phải liều. Vậy trong chúng tướng, ai dám đi?”
Tất cả các tướng đều tranh nhau đi, duy chỉ có hai ngưới không lên tiếng. Cả hai nhìn nhau rồi đồng loạt quỳ xuống nói:
_ “Lần này ra trận, không ai hợp hơn hai người chúng tôi!”
Mọi người tất thảy quay qua nhìn. Hai người này đều là hoàng thân chi tướng.
Lý Thường Kiệt nhìn họ, mỉm cười nói:
_ “Bổn soái rất vui khi thấy chúng tướng tranh nhau ra trận mà không màng đến sinh tử. Nhưng đến cả Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng xin đi thì thật là làm ta bất ngờ. Hai người thân là hoàng tử Đại Việt, sao lại cho rằng mình nên đi?”
Hoằng Chân trả lời rất nhanh:
_ “Đại Soái không nên nói vậy, hai huynh đệ mạc tướng đang trong quân doanh, thân phận cũng chỉ là tiểu tướng, hơn nữa, chỉ có hai huynh đệ mạc tướng là thích hợp tử chiến. Hai huynh đệ mạc tướng thân thuộc bến Như Nguyêt, lại quen đi thuyền chiến. Mạc tướng cũng từng hạ Vương Tiến, một gia tướng của lão hồ ly Quách Quỳ. Mạc tướng tự tin tiếp chiến Tống binh trên dòng Nguyệt Giang này, mong Đại soái thành toàn cho huynh đệ mạc tướng.”
Chiêu Văn tiếp lời:
_" Mạc tướng thân là con dân Đại Việt, lại là dòng dõi đứng đầu Đại Việt, mạc tướng thấy rằng trận này, huynh đệ mạc tướng nên là người mở trận, nguyện chết không từ.”
Lý Thường Kiệt lưỡng lự nói:
_ “Nhưng ta chỉ có thể cho các người nhiều nhất là một vạn quân...”
Hoằng Chân kiên quyết:
_ “Huynh đệ mạc tướng chỉ dám xin tám ngàn quân tinh nhuệ.”
Tất cả mọi người đều kinh ngạc nhìn Hoằng Chân. Trước giờ Hoằng Chân không bao giờ là người ăn nói ngạo mạn, tại sao hôm nay lại chỉ xin một ít quân mà đòi đi phá địch?
Lý Thường Kiệt hỏi lại:
_ “Hoằng Chân tướng quân, sao lại nói vậy? Phải chăng có ý gì khác chăng?”
Hoằng Chân nhanh nhẹn đáp:
_ “Mạc tướng hiểu vì sao Đại soái lại chỉ cấp ít quân đi đánh trận này!”
Thường Kiệt ra chiều thích thú, nhìn thật lâu rồi mới nói:
_ “Ta muốn nghe xem Hoằng Chân hiểu ta đến đâu!”
Hoàng Chân tiến lên một bước, nói nhẹ nhàng bốn chữ:
_ “Dương Đông Kích Tây"
Thường Kiệt ngây người ra rồi cười lớn:
_ “Ha ha ha... quả là đúng ý bổn soái! Sao ngươi lại biết ta đang định như thế?”
_ “Quân ta có hơn ba vạn quân, với cách hành quân đầy kinh nghiệm của đại soái, không lý gì người chỉ cho mạc tướng một van quân đi đối địch gần năm vạn quân của Quách Quỳ. Chắc chắn chỉ là mồi nhữ. Hơn nữa, Triệu Tiết kia lại đang nắm quân lương...”
Lý Thường Kiệt nắm chặc cổ tay của Hoằng Chân, cắt ngang lời đang nói:
_ “Được rồi! Vậy Hoằng Chân, Chiêu Văn nghe lệnh!”
_"Có mạc tướng!”
_ “Có mạc tướng!”
_ “Hoằng Chân, Chiêu Văn mỗi người năm ngàn quân, dùng hai trăm chiến thuyền nhỏ, canh hai tập kích trại Quach Quỳ. Phải đánh cho đến khi trời sáng, không được bỏ chạy, không được thua, chỉ được cầm cự.”
_ “Huynh đệ mạc tướng tuân lệnh!”
Thường Kiệt khẳn khái rời doanh trướng, về lại lều của mình, ngửa cổ lên trời, lắc đầu mà rơi nước mắt. Trong lòng thầm ta thán: “Không dùng Hoằng Chân không được, nhưng trận này e rằng khó có thể toàn mạng mà về. Thần có tội với tiên đế, nhưng không thể làm khác được. Mong tiên Đế hiểu cho Thường Kiệt.”
Lý Thường Kiệt ngồi vào văn án, thảo ngay một tờ quân cơ, gọi tên lính canh, sai hắn mang cho Hoằng Chân, dặn Hoằng Chân phải y theo mà làm. Rồi tự sửa soạn, đốc thúc quân binh, chuẩ bị canh một tác chiến. Một cuộc chiến nhằm vào Triệu Tiết...
Canh hai đêm đó, từ trong quân trại, trong tiếng gió, Quách Quỳ đang thiu thiu ngủ thì nghe âm thanh văng vẳng ngoài xa. Lắng tai nghe kỷ thì là câu:
_ “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư!”
Im lặng một hồi, lại có câu tiếp theo nổi lên:
_ “Tuyệt Nhiên Định Phận Tại Thiên Thư.”
G*i ốc Quách Quỳ nổi lên từng hồi, lão nhanh chóng mặc chiến bào, lao ra khỏi lều. Lúc này, câu thơ thứ ba vang lên, âm thanh to hơn hẳn.
_ “Như Hà Nghịch Lỗ Lai Xâm Phạm.”
Lùc này đây, tiếng trống trận từng hồi, từng hồi vang lên dồn dập. Câu thơ cuối cùng vang lên trong gió.
_ “ Nhữ Đẳng Hành Khang... Thủ Bại Hư!”
Quách Quỳ nghe âm thanh ấy, cùng tiếng trống vang dội, tay chân rụng rời, quay trái quay phải, luống cuống la lớn:
_ “Quân Việt tấn công!!! Mau nghênh chiến! Mau nghênh chiến!”
Quá muộn, quân Đại Việt đã tràn sang bờ Bắc sông Như Nguyệt. Sau một canh giờ ác chiến, quân Tống bị đẩy lùi sau vào gần hai cây số.
Yên Đạt, Trương Thế Cự dũng mãnh chống trả, phải đến lúc Hoàng Chân giương cung lên, bắn một phát trúng ngay vai Trương Thế Cự thì chúng mới chịu lui binh. V
Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng bên phía Triệu Tiết hay tin, xin Triệu Tiết đi cứu viện. Triệu Tiết bằng lòng.
Ba viên tướng tức tốc chạy nhanh đến để cứu Quách Quỳ.
Đang giằng co, thấy quân tiếp viện đã đến, Quách Quỳ cho ổn định quân ngũ, chuẩn bị đối kháng.
Quách Quỳ gào lên:
_ “Lý Thường Kiệt!!! Lão tử sẽ cho ngươi nếm mùi binh lực Đại Tống!”
Hai mắt như hai hòn than, lông mày dựng ngược, lão la lên:
_ “Tập trung phản công!”
Diên Chủng, Yên Đạt điều khiển đội quân máy bắn đá, bắn liên tục vào quân Đại Việt. Quân Đại Việt không thể chống đở, lui quân về lại bờ sông. Lúc này, Quách Quỳ dẫn đại quân, áp sát, buộc binh lính Đại Việt phải leo lên thuyền.
Hoằng Chân, Chiêu Văn cố gắng cần cự, quyết tử chiến chứ không quay về bờ nam. Cả hai nhìn nhau rồi la lớn với binh sỹ:
_ “Giờ là lúc báo đền non sông! Phải đánh cho oanh liệt, sống thì thăng quan tiến chức, thác thì tổ quốc hương khói phụng thờ!!!”
Binh sỹ Đại Việt reo to:
_ “Quyết tử vì non sông Đại Việt!!!”..
Máy bắn đá, bắn dồn dập. Quân Việt tử thương vô số. Quách Quỳ cùng năm tướng Trương Thế Cự, Yên Đạt, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng như bầy lang sói cắn chặt lấy Hoằng Chân và Chiêu Văn, buộc họ phải lui lên bờ. Tuy nhiên, nào có thể được, hai vị tướng nước Việt vô cùng quả cảm, chiến đấu ngoan cường. Cho đến khi, máy bắn đá, bắn trúng liên tiếp ba phát vào thuyền, Hoằng Chân và Chiêu Văn mới thúc thủ, vong mạng.
Trận này, quân Việt thua nặng, tử thương vô số.
Quách Quỳ không dám đánh tiếp, cho lui quân lên bờ, đưa vào thế thủ. Lúc đó, có tin thám báo.
_ “Báo!!! Bẩm Đại Soái, toàn bộ thủy quân do Hòa Mâu tướng quân và Dương Tùng Liên tướng quân chỉ huy đều đã tử trận!”
Quách Quỳ, như sét đánh ngang tai, nắm lấy cổ áo tên lính vừa cấp báo:
_ “Cái gì? Ai đã đánh chặn họ?” Hơn hai vạn thủy quân của ta đều là quân thiện chiến, sao có thể chỉ trong vài trận mà hoàn toàn bị phá?”
Tên lính báo tin run rẫy, cúi mặt nói trong nước mắt:
_ “Là Lý Kế Nguyên. Hắn bày trận, dùng hỏa công đánh quân của nhị vị tướng quân Hòa Mâu và Dương Tùng Liên tan tát ngay cửa Đông Kênh rồi.”
Quách Quỳ tím mặt, ngửa cổ la lớn:
_ “A....A....”
Lão rút kiếm, đâm thẳng vào mặt bàn, gầm lên:
_ “Lý Thường Kiệt, lão phu sẽ lột da xẻ thịt ngươi! Lão phu sẽ càn quét, san bằng Đại Việt!!! Lý Thường Kiệt!!!”..
Sau khi lấy lại bình tĩnh, Quách Quỳ, ra lệnh:
_ “Sửa soạn binh lực! Quyết một trận đinh đại cục!”..
Chuẩn bị xong khí giới, binh sỹ dù đang mất đi nhuệ khí cũng cố gắng xung trận. Tuy nhiên, tin thám báo thứ hai lại tiếp:
_ “Báo!!! Triệu Tiết tướng quân bị Lý Thường Kiệt đánh bất ngờ, trở tay không kịp, đã mất quân doanh. Toàn bộ lương thảo đều bị chiếm. Triệu tướng quân đang chạy thẳng về Biện Kinh.”
Quách Quỳ vung tay lên, đấm vào tim mình rồi quỵ xuống. Hai hàng nước mắt lăn dài. Các bộ tướng của Quỳ cũng thất thần, không dám tin là sự thật.
Quỳ than lớn:
_ “Ta thua rồi!!! Ta thua rồi!!! Vốn dĩ vận lương đã khó, nay lại còn không có lương, Sau mà tiếp tục đánh? Ta thua rồi! Lý Thường Kiệt, kẻ này là thần tướng. Hắn là thần tướng... Ta thua thật rôi!!!”..
Nguyên Lý Thường Kiệt xuất quân trước, đánh úp vào trại của Triệu Tiết nay khi thấy Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng dẫn theo hai vạn quân tiếp cứu Quách Quỳ. Trong trại chỉ còn gần hai vạn quân, mà từ ngày khai chiến, quân trong trại họ Triệu chỉ biết canh lương, trải qua những ngày tháng vô cùng yên bình nên đâm ra lơ là, mất đi sự phòng bị.
Lý Thường Kiệt cho quân nổi trống tấn công!!!
Binh lính trong quân doanh nháo nhào, tán loạn. Bản thân Triệu Tiết cũng không nghĩ là quân Việt dám tấn công vào đây.
Triệu Tiết cầm trường đao, leo lên lưng ngựa, dẫn quân ra nghênh chiến. Đang đánh, hắn chợt nhìn thấy một đại hán cưỡi ngựa, mình mặt giáp, đầu trần, tóc xõa bay trong không trung. Người này cao lớn, mặt đẹp, lạnh lùng, lông mày rậm nhưng không có râu, tay cầm thanh đại đao, tế ngựa tiến lên phía trước.
Hắn bị cái thần của người này làm cho hoang mang, hoảng loạn. Không dám đối chiến, Triệu Tiết quay ngựa hô vang:
_ “Rút binh!!! Người đó chắc là Lý Thường Kiệt rồi! Rút binh!:
Toàn quân tan rã, Triệu Tiết hạy thẳng về Khai Phong, Biện Kinh.
Lý Thường Kiệt lần này ra trận, xem như đại thắng, binh lính hao ít mà chiến lợi phẩm thì nhiều.
Thường Kiệt vào quân doanh, quỳ xuống giữa doanh trại, mặt trời cũng vừa rực sáng. Thường Kiệt nước mắt hai hàng, nhìn ra cửa trại. Lúc này, tin cấp báo đã đến. Thường Kiệt lắc đầu nhẹ, nước mắt lã chã:
_ “Không cần phải báo! Ta biết Hoằng Chân và Chiêu Văn đã tử trận! Đừng ai nói thêm gì nữa. Tim ta đang thắt lại. Trận này, bại mà như thắng, thắng mà như bại...!”
Nói rồi, Thường Kiệt đứng dậy, đi vào trướng, thảo ngay một bức thư, đưa cho Thân Cảnh An:
_ “Mau đưa thư này cho Quách Quỳ! Hắn sẽ phải lui binh! Ngươi thay ta đi một chuyến.”
Thân Cảnh An lập tức mang thư đi...
Quách Quỳ đang kêu khổ trong lòng, không biết nên tiến thoái ra sau. Đánh tiếp thì cũng chết, mà quay về cũng mang tội chết. Bỗng nhiên nghe tin Thân Cảnh An mang thư nghị hòa của Lý Thường Kiệt mang đến, vội sai người nhận thư.
Trong thư viết:
“Gửi Quách Đại nguyên soái của Tống triều.
Thường Kiệt nghe uy danh ngài cũng đã lâu, nay hai quân đối địch. Kiệt nhận thấy càng đánh tiếp thì càng thương vong. Đối với Đại Việt mà nói, thua thì cũng chưa nguy hại, vì chúng tôi còn quân lương, còn chiến khí. Còn với Đại Tống, nếu cứ dây dưa với một nước có quân lương và nhuệ khí cao thì là bật lợi. Bởi đá có tan, ngọc kia cũng khó toàn vẹn.
Kiệt trộm nghĩ, nếu đồng ý nghị hòa, giữ cái lấy tình này, Đại Tống sẽ rảnh tay mà lo mặt Bắc, nơi các nước phiên bang đang đe dọa. Kiệt tôi cam đoan, ngày nào nhà Lý của Đại Việt còn, thì tình ban giao giửa Tống – Lý còn.
Nay, là Kiệt tôi khẩn thỉnh Quách đại nguyên soái lui gót ngọc về lại phía Bắc.
Lý Thường Kiệt đê đầu đề bút.”
Quách Quỳ ngước mặt lên trời, cười mà nói:
_ “Là ngươi tha cho quân ta đó chứ! Ta sẽ nhớ ngươi, sẽ nhớ cái tên Lý Thường Kiệt ngươi.!!!”
Quách Quỳ trả lời Thân Cảnh An xong, cho rút toàn quân, quay lại Biện Kinh chịu tội thất trận.
Nhưng cũng như lời Lý Thường Kiệt, Tống – Lý sau lần nghị hòa này, không hề có chiến tranh. Mở ra một thời kỳ hưng thịnh nhất nhì cho dân Việt.
Hết.

Address

Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 09:00 - 23:00
Tuesday 09:00 - 23:00
Wednesday 09:00 - 23:00
Thursday 09:00 - 23:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 23:00
Sunday 09:00 - 23:00

Telephone

0906640411

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tủ sách đời thường. posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tủ sách đời thường.:

Shortcuts

Share

Category