22/11/2020
MỞ BÁN BỘ SÁCH:
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THỜI PHÁP THUỘC VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA (GIÁ THÚ)
Đây là cuốn thứ 3 được mở bán sau 2 cuốn TỬ HỆ, TÀI SẢN đã được đăng bán cách đây hơn 1 tháng.
Chủ đề: Nói về GIÁ THÚ trong Hôn nhân và gia đình thời Pháp thuộc và Việt Nam cộng hòa.
Nơi xuất bản: NXB Đại Học Huế, năm 2020 với 1252 trang.
Hình thức: Bìa cứng, giấy nhập Nhật loại 1, giá bìa 570.000đ
Nội dung:
Sách nghiên cứu Định chế về Giá thú trong gia đình Việt Nam, chia làm 2 Thiên:
- Thiên I: Định chế về sự thiết lập và tổ chức Gia đình
- Thiên II: Định chế về sự bất thường và phân rã giá thú
Thiên I nói về điều kiện thiết lập giá thú, về nội dung, hình thức giá thú, chế tài giá thú và hiệu lực giá thú, về bằng chứng giá thú và tương quan vợ chồng, cư sở gia đình và chế độ hộ tịch.
Thiên II nói về sự phân rã giá thú theo định chế ly hôn, về lịch sử, duyên cớ, thủ tục, hiệu lực ly hôn. Chương 2 của thiên nói đến sự biệt gián về giá thú do định chế ly thân, về ly thân trong luật lệ thời Pháp thuộc, về ly thân trong Dân luật Việt nam cộng hòa, về sự chấm dứt ly thân, về sự phối ngẫu dưới hình thức ngoại hôn.
Đặc biệt Phần phụ lục sách có trích dẫn bộ Dân luật Bắc kì (bản tiếng Pháp) (CODE CIVIL A L’USAGE DES JURIDICTIONS INDIGENES DU TONKIN (Titre Preliminaire & Livre Premier)), và bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (Quyển 1 và 2)
Cuốn Giá thú sẽ là cuốn hấp dẫn hơn cho số đông bạn đọc, đọc xong nó bạn sẽ hình dung được sự phát triển thăng trầm qua từng giai đoạn của lịch sử lập pháp về Dân luật của dân tộc.
Các bạn có thể đặt mua 2 cuốn khác tại đây:
https://www.facebook.com/ThuaThienBooks/posts/161321152274660
2. Tập Tài Sản, Nxb Thuận Hoá, 2020, 972 trang. Giá bìa: 500.000;
3. Tập Tử Hệ, Nxb Thuận Hoá, 2020, 1014 trang. Giá bìa: 500.000.
NOTE: 100 cuốn đâu tiên sẽ có chữ ký của Tác giả
Về tác giả.
Huỳnh Công Bá
Tiến sĩ sử học, Đại học Sư phạm Huế
Quý độc giả có thể đặt ngay ở đây hoặc có thể nhắn tin cho em:
https://www.facebook.com/phamnhanduc/
1. Quý vị có thể thanh toán bằng COD (tức là thanh toán khi nhận hàng bao gồm cả tiền sách lẫn phí giao hàng).
2. Quý vị có thể thanh toán qua Tài khoản ngân hàng (bao gồm cả tiền sách và phí giao hàng)
THÔNG TIN TÀI KHOẢN:
- PHẠM NHÂN ĐỨC
- SỐ TÀI KHOẢN: 0161001745932
- NGÂN HÀNG VIETCOMBANK - CN THỪA THIÊN HUẾ
Trân trọng
ĐỨC PHẠM
THỪA THIÊN BOOKS
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN LUẬT VIỆT
Trong giai đoạn trước năm 1883, cũng là thời gian mà pháp chế về gia đình ở Việt Nam đã được chi phối bởi bộ Luật Hồng Đức, rồi Luật Gia Long cho đến trước ngày đất nước bị mất hoàn toàn chủ quyền vào tay thực dân Pháp bằng Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenotre (1884). Từ đó, các bộ Dân luật giản yếu, Dân luật Bắc và Dân luật Trung, do người Pháp xây dựng, đã được áp dụng ở nước ta trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và tiếp tục tồn tại ở vùng Pháp chiếm trong thời kỳ chiến tranh Việt – Pháp, đồng thời chúng còn được tiếp tục sử dụng ở khu vực Nam Vĩ tuyến 17 cho đến ngày ra đời của bộ Luật Gia đình vào ngày 2-1-1959 của chính phủ Việt Nam cộng hòa.
đối với bộ Dân luật giản yếu phải đợi đến ngày 26-3-1884 thì nó mới được ban hành, nhưng người ta cũng vẫn quen gọi với một tên chung là bộ Dân luật giản yếu 1883. Ngoài Nam Kỳ, bộ Dân luật giản yếu cũng được đem ra áp dụng tại các nhượng địa của Pháp lúc bấy giờ là Hà Nội, Hải Phòng và Tourane. Ngoài 4 titre (gồm Titre sơ bộ; Titre I- Quốc tịch; Titre II- Hộ tịch; và Titre III- Trú quán) đã được nói đến ở trên, thuộc về bộ luật này còn có Titre IV (Thất tung), Titre V (Giá thú), Titre VI (Ly hôn), Titre VII (Phụ hệ và con chính thức), Titre VIII (Con nuôi), Titre IX (Thân quyền), Titre X (Vị thành niên, giám hộ, thoát quyền) và Titre XI (Thành niên). Đối với Titre X, về vấn đề giám hộ, đã được Sắc lệnh ngày 30-3-1932 cải bổ lại (được ban hành ở Việt Nam vào ngày 28-7-1932).
Bộ Dân luật Bắc được ban hành do Nghị định của viên Thống sứ Bắc Kỳ vào ngày 30-3-1931 và được cho thi hành kể từ ngày 1-7-1931, với tên gọi chính thức của bộ luật này là “Bộ Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án ở Bắc Kỳ” (thường được gọi tắt là bộ Dân luật Bắc).
Bộ Dân luật Bắc gồm có 1.455 điều, được chia ra làm 1 Thiên sơ bộ và 4 Quyển. Thiên sơ bộ gồm có các nguyên tắc căn bản của nền luật pháp mới (đó là nguyên tắc công bố các đạo luật và nguyên tắc bất hồi tố; nguyên tắc bình đẳng, tự do cá nhân và tôn trọng quyền tư hữu; nguyên tắc ưu thế của luật đối với khế ước tư nhân, nguyên tắc ưu thế của luật pháp đối với các Thẩm phán vì các Thẩm phán không được tự ý đặt ra luật lệ để xử đoán). Quyển thứ 1 là quyển quan trọng và mang tính chất tân kỳ nhất, được quy định trong 12 thiên về các vấn đề của luật gia đình (đó là thân thuộc pháp), kể cả các chế độ về tài sản của vợ chồng và các vấn đề về thừa kế. Quyển thứ 2 quy định các vấn đề thuộc về tài sản. Quyển thứ 3 liên quan đến các nghĩa vụ và khế ước. Quyển thứ 4 nói về cách thức dẫn chứng.
Bộ Dân luật Bắc chỉ được thi hành đối với những người thuộc về quyền xét xử của các Tòa án ở Bắc Kỳ (đ.12 DLB). Từ ngày áp dụng bộ Dân luật Bắc thì các luật pháp có trước ở Bắc Kỳ mà tương phản với luật này đều đã bị bãi bỏ, nhất là các điều khoản ở trong bộ Luật Gia Long (đ.1454).
Ở Trung Kỳ, dưới chế độ nửa bảo hộ, cho nên bộ Dân luật ở Trung Kỳ là do Hoàng đế của An Nam ban hành. Trong thực tế, bộ Dân luật Bắc (1931) đã được nhà làm luật ở Trung Kỳ dùng làm khuôn mẫu để biên soạn nên bộ Dân luật Trung. Và theo GS.Vũ Văn Mẫu, có thể nói là bộ Dân luật Trung đã chép lại gần đủ các điều khoản của bộ Dân luật Bắc Kỳ, trừ một vài sự thay đổi nhỏ nhặt. Tuy vậy, ở Trung Kỳ người ta đã phải chờ đợi cả một thời gian khá dài thì mới có được một bộ luật trọn vẹn . Quyển thứ I được ban hành do đạo Dụ số 51 ngày 13-7-1936. Quyển thứ II được ban hành do đạo Dụ số 95 ngày 8-1-1938. Các Quyển thứ III, IV và V được ban hành do đạo Dụ số 59 ngày 28-9-1939. Bộ Dân luật Trung gồm cả thảy 1.709 điều (nhiều hơn bộ Dân luật Bắc 254 điều), và tên gọi chính thức của nó là “Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật” hay «Hoàng Việt hộ luật» (gọi tắt là Dân luật Trung). Sự thay đổi quan trọng nhất ở bộ luật này so với bộ Dân luật Bắc là ở chỗ các Thiên thứ XI và XII của Quyển I thuộc bộ Dân luật Bắc có liên quan đến các vấn đề về thừa kế đã được nhà làm luật ở Trung Kỳ tách riêng ra và hợp thành Quyển II của bộ Dân luật Trung (ở đây nó giống với Dân luật Pháp). Cũng trong quyển này, có một vài điều khoản đã được thay đổi về mặt nội dung.
Và đến ngày 2-1-1959, Luật Gia đình được Tổng thống Việt Nam cộng hòa Ngô Đình Diệm cho ban hành với tên gọi là Luật số 1/59, gồm có 135 điều, thuộc về 4 thiên cùng với 1 tổng tắc, và được chia ra làm 6 chương như sau: Thiên thứ I (gồm 4 chương): Chương I: Hôn thú (đ.1-44), Chương II: Chế độ phu phụ tài sản (đ.45-54), Chương III: Sự ly thân (đ.55-70), Chương IV: Sự vi phạm những nghĩa vụ vợ chồng (đ.71-76); Thiên thứ II (không chia chương) có tên là: Sự ngoại hôn (đ.77-82); Thiên thứ III (gồm 2 chương): Chương I: Tử hệ chính thức (đ.83-95), Chương II: Tử hệ ngoại hôn (đ.96-115); Thiên thứ IV (không chia chương) có tên là: Sự lập con nuôi (đ.116-134); và cuối cùng là Tổng tắc: gồm 1 điều (đ.135).
Ngay từ khi ban hành, Luật Gia đình 1959 đã gặp nhiều sự phản kháng trong các giới luật gia cũng như trong xã hội. Đặc biệt, từ sau Cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963, Luật Gia đình 1959 đã bị chỉ trích rất nhiều. Trong tình hình đó, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam bị sụp đổ và nền Đệ nhị Cộng hòa lên thay thế, thì hơn 8 tháng sau, Luật Gia đình 1959 đã bị bãi bỏ và thay thế bằng Sắc luật số 15/64, được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Khánh ban hành vào ngày 23-7-1964, trong đó quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng.
Bộ dân luật1972:
Những sửa đổi và bổ túc trên đây vẫn còn rất nhỏ nhoi. Đứng trước tình hình đó, việc giải thích về luật pháp lại buộc phải được đặt ra. Do đó, cả về học lý lẫn về án lệ đã được các tòa án sử dụng để giải quyết đối với những khúc mắc, đồng thời cũng làm nhiệm vụ soi sáng cho các nhà làm luật để chuẩn bị cho những quy tắc căn bản sẽ được kiến tạo trong tương lai, khả dĩ làm nền tảng cho một hệ thống pháp chế mang tính chất thống nhất: đó chính là Bộ Dân luật 1972 của Việt Nam cộng hòa được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành bằng Sắc luật số 028-TT/SLU ngày 20-12-1972 . Đây là một trong 5 Dự án luật đã được Bộ Tư pháp triển khai thực hiện từ năm 1966 (gồm Dân luật, Thương luật, Hình luật, Dân sự tố tụng và Hình sự tố tụng)