29/07/2024
THANH TÂM TUYỀN
Nỗi buồn trong thơ hôm nay
I.
Tôi nghĩ rằng điều làm cho người đọc xa lạ với thơ hôm nay không hoàn toàn vì hình thức tự do của nó. Thơ không vần, không điệu, thơ suôi nếu quả thật là thơ — nghĩa là đạt được đến ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn — thì sớm muộn người đọc cũng tìm thấy và quen dần với một thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn. Thơ luật nhịp điệu được quy định rõ ràng bằng sự phối hợp các thanh bằng trắc trong tám câu, thơ mới có biến hóa hơn nhưng rút gọn lại trong phạm vi bốn câu một, nếu làm thơ tám chữ hay lục bát thì chu kỳ âm điệu chỉ còn là hai câu thôi. Trong cái quá trình cấu thành nhạc điệu của « thơ mới » sau khi giải phóng khỏi sự câu thúc của thơ luật, người ta cũng cảm thấy sự nghèo nàn của điệu thơ lẩn quẩn trong bốn câu hay hai câu nối tiếp, nên đã dẫn đến sự sử dụng thể hỗn hợp của ca dao và thơ phá thể. Rất nhiều người thường lên tiếng khuyên dạy các nhà thơ hôm nay chỉ nên làm thơ phá thể mà thôi, trong ý họ câu thơ vẫn tự đo mà giữ dược nhạc điệu. Những người ấy không thể hiểu nổi rằng thơ phá thể chính là biểu hiện của « thơ mới » ở ngõ cụt, nhạc điệu của thơ phá thể là một thứ nhạc điệu nghèo nàn và giả tạo nhất, Tôi không thể tưởng được rằng người ta lại có thể quan niệm âm nhạc trong thơ nông cạn và tầm thường đến thế ; đọc những câu dài ngắn khác nhau đầy những vần điệu — không những chỉ dùng vần điệu để nối các câu với nhau, ngay trong một câu riêng biệt cũng có vần điệu nữa — của thơ phá thể tôi thường nhận xét đó không phải là thơ phải gọi là lời của một bản nhạc cải cách nào đó. Một bằng chứng hùng hồn nhất: mọi người có thể tìm đọc bài Lời muôn hoa trong tập Hoa đăng xuất bản gần đây của Vũ Hoàng Chương, một thi sĩ làm thơ phá thể đứng vào bực thầy của tất cả những nhà thơ phá thể đời nay, và tất cả những bài thơ phá thể của nhà thơ này không thể so sành với thất ngôn hay lục bát của cùng một tác giả.
Bởi thế thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là thơ tự do.
Mọi người đều biết cái sự thực đơn giản này : người ta có thể viết những bài có vần điệu nhưng người ta không hề biết làm thơ. Nhắc lại điều ấy tôi không có ý lợi dụng để bảo thơ sẽ từ bỏ nhạc điệu, nhạc điệu là yếu tố cần thiết cho thơ nhưng không là yếu tố quyết định. Tôi chỉ muốn khởi đi từ đấy để người ta khỏi câu nệ vì thành kiến mà tìm vào thơ hôm nay đến cái phần gặp gỡ của nó với thơ đã qua rồi lúc ấy người ta có thể quay trở lại khám phá thấy nhạc điệu của nó. Và khi nhận ra được nhạc điệu của thơ hôm nay rồi, người ta mới trông rõ sự xa lạ cách biệt của thơ hôm nay với người yêu thơ là ở chỗ khác, như tôi nói ngay lúc mở đầu. Thực ra chính từ sự xa lạ cách biệt của thơ hôm nay đã gây ra sự không hiểu về hình thức, nhưng để giản dị hóa vấn đề tôi tạm lật ngược xem xét kết quả trước nguyên nhân.
Tôi không cần nhắc lại ở đây những điều tôi và các bạn tôi đã nói từ trước về vần điệu cùa thơ tự do như là nó không gieo vần lối đồng âm đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác. Tôi muốn đi xa và vào sâu hơn rữa.
Trong khi đề tựa cho tập thơ Quách Thoại, tôi đã tìm thấy trong thơ của Thoại một thứ nhịp điệu tôi gọi là nhịp điệu của hình ảnh. Trong một bài thơ giữa những tiếp nối của ý tưởng bỗng nhiên xuất hiện hình ảnh, có khi một có khi là một mớ xô đẩy nhau, tưởng chừng không ăn nhập gì vào bài nhưng chính thực ở đấy tỏa ra một thứ ánh sáng một thứ âm nhạc bao trùm làm rung động toàn bài. Một thí dụ nhỏ như trong bài Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo đã đăng ở Người Việt, đang kể lể, Thoại bỗng viết :
Mặt trời mọc
Mặt trời mọc
Rưng rưng mùa hoa gạo
Lỡ một ngày mai tôi chết trần truồng không cơm áo
Từ cái nhịp điệu của hình ảnh, rồi bằng vào kinh nghiệm riêng khi làm thơ cũng như khi đọc thơ, dần dần tôi tìm đến được thứ nhịp điệu của ý tưởng, cả hai thứ nhịp điệu trên chỉ là sự thể hiện của nhịp điệu cửa ý thức, hơn bao giờ hết người ta sẽ thấy các nhà thơ hôm nay là những ý thức muốn biểu diễn bằng thi ca. Cần phải nhận định rõ cái nhịp điệu của ý thức diễn trong thi ca không thể có cải hình dáng của bất cứ một thứ luận lý nào, nên dù viết xuôi hiển nhiên thơ xuôi vẫn không phải là văn xuôi. Cái nhịp điệu của ý thức sinh ra nhịp điệu của ý tưởng, của hình ảnh nằm trong một mối điều hòa tự thân phức tạp, không có quy luật nhất định, nó tùy thuộc vào từng nhà thơ. Và một bài thơ hôm nay nếu thành công, tôi nghĩ nó sẽ đạt đến một thứ nhạc khá mới lạ không phải chỉ là sự hòa hợp đơn thuần của bằng trắc mà còn ở trong sự chứa đựng của tiếng nói, của hình ảnh, của ý tưởng biến diễn qua một ý thức sáng suốt, tự do vươn tới sự thống nhất trong khi phải trải qua sự chia xé mãnh liệt. Tuy không được thấu triệt cho lắm về tư tưởng của Khổng Tử, nhưng tôi tưởng khi Khổng Tử cho nhạc là yếu tố điều hòa của vũ trụ chắc người không bao giờ nghĩ nhạc ấy sẽ chỉ là những điệu hát phổ thông đơn giản rõ ràng. Và nhạc ở trong thơ không hẳn chỉ là những âm thanh bằng trắc.
Khi nghiên cứu về bi kịch của Hy Lạp, Nietzsche đã phân biệt hai khuynh hướng đối chọi nhau trong nghệ thuật : quan niệm nghệ thuật Apollon và quan niệm nghệ thuật Dionysos. Với quan niệm thứ nhất, nghệ thuật phải đạt đến những hình thức toàn vẹn minh bạch vững vàng, một nghệ thuật của mơ mộng, một cái Đẹp kết lại được ở hình thức có mẫu mực ; nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bình yên nhìn ngắm và chấp nhận đời sống. Với quan niệm thứ hai, nghệ thuật phá vỡ những hình thức sẵn có hỗn loạn trong những niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm, đắm chìm trong khổ đau không bao giờ chịu chấp nhận.
Cái khuynh hướng thứ hai này thường bị hắt hủi coi thường, nhất là ở trong cái xã hội ngưng đọng mấy ngàn năm ở đây người ta dương mắt thản nhiên nhìn ngắm những đau khổ. Hãy nghe Nietzsche nói : « Nhiều kẻ, vì ngu tối hay thiển cận, tránh xa những hiện tượng như thế, làm như họ tránh « bệnh truyền nhiễm » và tin vào sức khỏe của mình, họ chế riễu hay tỏ lòng thương hại. Những kẻ khốn nạn ấy không ngờ tới cái vẻ tái ngắt thiểu não ma dại trong « sức khỏe » của họ, khi trận bão của sức sống mãnh liệt do những người mơ mộng theo Dionysos thổi qua. » Tôi nhớ tới cách đây hai mươi năm ông Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam cũng đã từng chế riễu và thương hại Hàn Mặc Tử vì không sao hiểu nỗi cái độc đáo nơi con người thi sĩ ấy.
Chính từ sự phân biệt của Nietzsche, tôi dùng làm khởi điềm để mở cho người đọc trông thấy sự cách biệt giữa thơ hôm nay với họ mà họ phải vượt qua, không phải là sự cách biệt tầm thường ngoài hình thức mà là chia cách từ căn bản của nghệ thuật, của thơ.
II.
Tập thơ thứ hai này lúc đầu mang tên Bài ngợi ca tình yêu, là vì tôi muốn noi theo cái giòng của thơ tình bất hủ như Le cantique des cantiques trong Thánh Kinh. Nhưng những bài thơ làm ra sau Tôi không còn cô độc trong khoảng bốn năm nay, khi nhìn lại tôi nhận thấy chúng lạc giòng. Với tôi nhận thấy chúng lạc dòng. Bị thúc đẩy lôi cuốn bởi những sức lực thầm kín trong tôi, tôi không thể nào quay về với ý niệm khởi đầu của tôi. Tôi không ngợi ca tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu. Mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dầy vò, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc nghĩa là tất cả những thứ mà tình yêu loại trừ. Trong thơ tôi không hề có tình yêu, cái báu vật mà tôi mơ ước và tưởng rằng cùng với tự do là những hy vọng cuối của đời tôi. Nên tôi phải đổi tên tập thơ, gọi tên Liên người con gái đã mất như niềm tưởng vọng không đâu những gì không thể nào tìm thấy.
Trong thơ hôm nay một số tiếng bỗng mất tích, một số khác biến dạng và vô số những tiếng lạ xuất hiện làm nên cái thế giới riêng, Cái thế giới ấy quá kỳ quái với người đọc, người ta không hề quen thuộc, chưa nghe nói tới và ngỡ mình lạc đến một tinh cầu khác. Thơ hôm nay là một tinh cầu biệt lập xa vời với thơ hôm qua. Người ta không còn tìm được trên tinh cầu này những cảnh tượng những sự vật trong trí người ta vẫn coi là vĩnh viễn không dời đổi của thơ. Không còn những bông hoa kiều diễm, những đêm trăng huyền ảo, những buổi chiều bâng khuâng, những mối tình thơ mộng dù tan vỡ, những nhớ nhung cách trở tự nhiên, những khúc đàn ca nhịp nhàng, người kỹ nữ bến Tầm Dương, tà áo tha thướt trong ánh nắng, mùa xuân với giọng chim ca, mùa thu úa trong lá vàng, những cơn mưa buồn hiu hắt không thôi, cái tâm hồn của ngàn đời còn run hoài chưa hết những nỗi đau thương mơ mộng thoáng qua của một hình bóng, một cơn gió một bóng mây... Người ta lạc vào cái thế giới có những đêm tối nghẹn ngào, những ánh sáng lộ liễu, những bệnh viện lạnh lẽo, những nấm mồ hoang vu, những thành phố đổ nát không hoa cỏ chim muông chỉ những gạch ngói sắt thép dửng dưng, những tiếng kêu xé ruột gan trong tẻ nhạt, những nỗi lặng câm khắc khoải, những cặp mắt đen như cú vọ, những hoảng kinh xô đẩy của bầy cầm thú trốn chạy thiên tai, những mối tuyệt vọng sâu thẳm không được cứu vớt, những hồn chết dần trong thèm khát tương lai, những ràng buộc vô lý vào cuộc đời lạ mặt với đám đông ồn ào nhung nhúc, những tầm thường khổ đau gọi ra tên tuổi, cái tâm hồn hôm nay chịu vùi dập bởi những khốn nạn tang thương đòi giải phóng ngay chính ở hiện tại.
Tôi thường nghe người ta nói « thơ mới » là một cuộc cách mạng trong thơ Việt Nam. Sự thực « thơ mới » chỉ là biến dạng của « thơ cũ » mà thôi, trong « thơ mới » cái tâm hồn thi nhân của quá khứ vẫn còn được lưu truyền. Tới thơ hôm nay, điều làm cho người đọc bực tức, là những người viết muốn đoạn tuyệt với cái tâm hồn thi nhân đại đồng hằng cửu ấy. Để làm gì ? Có lẽ để vào sâu trong cái tâm hồn riêng tư có một của từng người, một người không phải một thi nhân. Nếu các nhà thơ trước đây trong mơ mộng biết mình là thi nhân, như một loài kiêu hãnh hèn mọn, tìm đến cái nơi chung để gặp được ngàn đời vinh hiển, những người làm thơ hôm nay không muốn làm thi nhân, muốn làm một người hèn mọn kiêu hãnh, cố gắng tách lìa mọi người để gặp được hiện tai tầm thường. Theo tôi những người làm thơ hôm nay không muốn được gọi là thi nhân vì thơ đối với họ không còn là cứu cánh của đời sống, thơ chỉ còn là phương tiện để họ vào sâu trong ý thức gặp mình, gặp được đời sống và may ra gặp được hồn người. Nên họ không mơ mộng nghĩa là không tạo những hình dáng cho cuộc đời vốn đã là một hình dáng, họ muốn nhìn thực tế bằng con mắt trợn tròn căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy. Bởi vậy họ có thể sử dụng cái phương tiện ấy một cách tàn nhẫn một cách quyết liệt để đạt mục đích, họ không gọi thơ là Nàng Thơ nên họ không sợ thơ biết đau. Người khác nâng niu thơ vì coi đó là tình nhân muôn đời. Người làm thơ hôm nay có thể bỏ thơ không thương xót khi họ nhận thấy thơ không làm thỏa mãn nỗi khao khát quá chừng của đời sống hôm nay.
Người ta bất mãn là đúng, với thơ hôm nay Thơ đã rời khỏi ngôi báu thiêng liêng từ ngàn xưa để họ dùng cho cuộc đời tầm thường quá sức.
Trong Tôi không còn cô độc tôi đã mơ hồ nhận thức điều ấy khi viết xin đừng ai gọi tôi là thi sĩ.
Cho nên tất cả những lời trách cứ đối với thơ hôm nay đều hữu lý : thơ không còn là thơ, không còn gì nghệ thuật. Chúng tôi trả lại nàng thơ, trả lại nghệ thuật cho các người, cho những thi sĩ thuộc dòng đầu bù tóc rối có nghệ thuật rạng ngời vững vàng như thần Apollon. Chúng tôi theo cơn cuồng nộ bi thảm của Dionysos, của cuộc đời hôm nay. Chúng tôi cho các người vĩnh viễn, hãy nhường cho chúng tôi hiện tại.
Xua đuổi Hồn thơ muôn đời, không làm chim Phượng Hoàng gãy cánh, trích tiên bơ vơ, người làm thơ hôm nay chỉ là tên ăn mày lẫn giữa đám đông khôn cùng với một mẩu tự do sót lại. Đám đông bị cuốn đi trong cơn lốc tối tăm khủng khiếp, rất gần gũi nhau để hiện lên cô đơn trong từng kẻ một. Người làm thơ hôm nay không chỉ nhìn trông từ ngôi cao vĩnh viễn, hắn có mặt và cùng cô đơn, cô đơn hơn ai hết. Không chuyển sự cô đơn lên một bầu trời bình yên để hòa đồng trong tĩnh mịch trường cửu, hắn vục mặt vào cô đơn giữa một dòng náo động bi phẫn đòi gần gũi trước mắt nhau.
Xua đuổi Nghệ thuật để được thêm tự do, hắn ngoảnh mặt với Thiên nhiên, chim chóc cỏ hoa suối nguồn sông rộng mây trắng trời xanh quên đi, hắn bước sâu vào ý thức thăm thẳm muốn xô động tới những giới hạn siêu hình. Ý thức quằn quại chập chờn cùng với những cồn cào của cơ thể, những hỗn loạn của thực tế. Phá vỡ những giấc mơ quen thuộc, thơ hôm nay đưa người ta đi tìm sự thực, con mắt vừa tỉnh còn ngái ngủ trông thấy sự vật hiện lên những hình thù quái đản và người ta không thể không luyến tiếc cái thế giới hình dáng đã tạo dựng bằng ảo tưởng. Người làm thơ hôm nay cũng vậy, cuộc đoạn tuyệt nào chẳng đau xót. Nhiều lúc hắn cũng nhớ nhung những giấc mộng yên lành cũ, hắn thử quay về, những lúc ấy ví như mặt biển dông bão bỗng im bặt trong giây phút chờ đợi những nguồn cơn khiếp hãi hơn. Nhưng không còn được như người xưa lấy mộng làm thực, hắn nhìn những giấc mộng cũ thấy cách biệt và lừa dối. Chính sau đó cơn cuồng nộ ghê gớm hơn và Hồn Thơ, và Nghệ Thuật, và Thiên Nhiên, và Tình Ái bị tiêu hủy giữa một ý thức vật vã. Người đọc hốt hoảng bị lay động tới cùng cực không còn nhận được đâu là Thơ, đâu là Nghệ Thuật, Thiên Nhiên biến dạng, Tình Ái biến dạng.
Trong thơ hôm nay hoặc là Thiên Nhiên không được nhắc đến nhường chỗ cho nhũng vỉa hè, cột đèn, gạch ngói, khối sắt khối thép, da thịt, tay chân, mắt mũi hoặc là hiện ra thản nhiên lạnh lùng khó chịu nếu không muốn nhập một với ý thức.
Những câu ca Tình Ái không hiếm trong thơ hôm nay nhưng Tình Ái không còn nữa. Vì thơ hôm nay không còn tìm đến Tình Ái để ngợi ca tôn sùng nó lên ngôi cao cùng với Thơ tạo, ra Thiên Đường vinh hiển của Đau khổ hay Hoan lạc cũng vậy. (Đau khổ là thơ lãng mạn, Hoan lạc như thơ trong dòng Le Cantique des Cantiques) Tình Ái trong thơ hôm nay cũng chỉ là một trong nhiều con đường người viết đi vào để về với đời sống. Nên chi cái thế giới tuyệt đối của Tình Ái bị phá vỡ, những thần tượng sụp đổ. Tình Ái cũng bị dùng làm phương tiện khám phá đời sống, khai quật ý thức. Chọn một người trong đám đông không phải để phá hủy cô đơn — vô ích — mà để so đọ cô đơn ở mỗi người. Thơ hôm nay không cần đến Tình Ái và khi Tình Ái đến với thơ hôm nay cũng với vẻ tiều tụy khốn khổ chịu đựng hắt hủi như cả một cuộc đời.
Có phải thế không Liên ?
Những bài thơ viết sau đây em không được đọc và anh cũng chẳng hề hy vọng bao giờ em sẽ đọc. Những người thứ ba sẽ nhìn bằng con mắt người lạ. Nhung anh vẫn in ra, những bài thơ này không phải là thơ tình. Chúng là những bằng chứng của một đời sống có chúng ta và những kẻ khác.
1955
Thanh Tâm Tuyền