24/06/2017
Khách ơi mua nhanh kẻo lỡ mùa, hàng nhà em thì yên tâm là hàng sạch ạ
mận tím giòn, ngọt giá 95k/kg
Thanh mai 130k/ kg
Quả thanh mai là gì?
Thanh mai là một loại quả rừng chính thế nó sẽ được gọi là quả sạch 100%, theo Bác sĩ Nguyễn Thị Liễu cho hay thanh mai thuộc họ Dâu rượu Myricaeae. Tên gọi này thường chỉ thấy ghi trong một số sách thực vật, dựa theo tên Trung Quốc của cây. Riêng nước ta, nhân dân thường chỉ gọi là cây dâu, dâu rượu hoặc dâu tiên. Về đặc điểm, loại cây này cao khoảng 0,4-0,5 m. Cành cây thường có phủ lông tơ, lá xanh tươi quanh năm. Quả có đường kính 5 mm đến 1 cm khi chín có màu đỏ tím, mọng nước trên mặt rất nhiều gợn thoạt trông giống như quả dâu tằm. Mùa hoa thanh mai từ tháng 10-11, mùa quả từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (tính theo âm lịch). Loại cây này mọc hoang tại nhiều tỉnh phía bắc nước ta như Lào Cai, đặc biệt là miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế nhưng duy chỉ có vùng Quảng Bình nhân dân khai thác để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Cây còn mọc ở Ấn Độ, Malaixia, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản. Vào mùa quả chín (tháng 12 đến 3 âm lịch) ở Quảng Bình, nhân dân thường thu hái, phơi khô, sau đó đem đồ để bảo quản không bị mọt. Bác sĩ Liễu cho biết chưa có tài liệu nghiên cứu về các thành phần hóa học có trong quả thanh mai. Tuy nhiên, theo bà, quả xanh có axit hữu cơ, tanin, vitamin C, quả chín chứa đường, sắc tố anthoxyan. Loại quả này chứa 7-10% đường, 0,5-1% axit hữu cơ và rất ít myrixetin. Lá chứa 0,02-0,03% tinh dầu, tanin và taraxerol.
Dùng thanh mai như thế nào?
Quả này có thể ăn theo 2 cách:
1. Ngâm quả thanh mai qua nước muối loãng chừng 20-30 phút cho ra hết chất bẩn và sâu chui ra là có thể ăn ngay.
2. Ngâm đường pha nước giải khát mùa hè (giống y hệt ngâm dâu ta).
Ngoài ra còn làm được ô mai. Quả thanh mai dầm đường rồi bỏ tủ lạnh mấy tiếng cho mát, xong đem pha nước vừa nhanh vừa ngon vừa mát.
Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất Lợi, quả thanh mai được ghi dùng làm thuốc đầu tiên trong Khai Tống bản thảo sau đến Bản thảo cương mục. Tài liệu cổ ghi loại quả này có vị chua, ngọt, tính bình, có tác dụng lý khí, tán ứ, thanh thấp nhiệt. Vào mùa hạ, người ta thu quả phơi khô chữa đau bụng, lỵ, ngày dùng 8-12 g vỏ khô sắc với nước uống trong ngày. Để chữa lở ngứa, dân gian thường dùng vỏ thân hoặc vỏ rễ sắc nước để rửa nơi bị ngứa.
Cách làm quả thanh mai : Quả chín rửa sạch, cho thêm đường, men rượu, ủ trong 2-3 ngày. Loại rượu này hòa tan các chất trong quả trong đó có các sắc tố anthoxyan nên có màu tím đỏ đẹp, vị hơi chua và ngọt giống rượu vang. Nhiều người còn mua quả, sau đó cho thêm rượu vào ngâm hoặc chế thành mứt.
Bác sĩ Liễu cho biết thêm, nước ta ít dùng loại quả này làm thuốc. Đến mùa quả chín, trẻ con hái ăn hoặc bán để ngâm rượu. Tại Trung Quốc, người ta còn dùng thanh mai để chữa ho, đau dạ dày, tiêu chảy, lỵ. Hạt được dùng chữa mồ hôi chân. Vỏ thân, rễ dùng dưới dạng sắc để điều trị vết loét ngoài da hoặc ngộ độc do thạch tín. Tại Ấn Độ, Nhật Bản những cây to được dùng để làm nguyên liệu tanin, nhuộm màu vàng cho ruốc cá. Điều này chứng tỏ nước ta chưa khai thác triệt để công dụng của thanh mai. Đa phần người dân chỉ mua về ăn hoặc ngâm thành nước uống giải nhiệt cho mùa hè.
Công dụng của quả thanh mai ?
- Công dụng đầu tiên không thể bỏ qua cho mùa hè siêu nóng năm nay là dùng ăn giải nhiệt, tốt cho tiêu hóa, quả thanh mai còn tốt cho máu não và mắt, tăng khả năng miễn dịch, ngăn ngừa bệnh tiểu đường, chống lão hóa tốt.
Cụ thể, theo sách "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của giáo sư Đỗ Tất Lợi, thanh mai được ghi dùng làm thuốc đầu tiên trong Khai Tống bản thảo sau đến Bản thảo cương mục với tên giang mai. Tài liệu cổ ghi giang mai có vị chua, ngọt, tính bình, có tác dụng lý khí, tán ứ, thanh thấp nhiệt.
Vào mùa hạ, người ta thu quả phơi khô chữa đau bụng, lỵ, ngày dùng 8-12 g vỏ khô sắc với nước uống trong ngày. Để chữa lở ngứa, dân gian thường dùng vỏ thân hoặc vỏ rễ sắc nước để rửa nơi bị ngứa.
- Công dụng chữa bệnh từ quả thanh mai: Tại Trung Quốc, người ta còn dùng thanh mai để chữa ho, đau dạ dày, tiêu chảy, lỵ. Hạt được dùng chữa mồ hôi chân. Vỏ thân, rễ dùng dưới dạng sắc để điều trị vết loét ngoài da hoặc ngộ độc do thạch tín. Tại Ấn Độ, Nhật Bản những cây to được dùng để làm nguyên liệu tanin, nhuộm màu vàng cho ruốc cá.