22/07/2020
ATROPIN (Thuốc ức chế phó giao cảm)
- Atropin là alcaloid kháng muscarin, một hợp chất amin bậc ba, có cả tác dụng lên trung ương và ngoại biên. Thuốc ức chế cạnh tranh với acetylcholin ở các thụ thể muscarin của các cơ quan chịu sự chi phối của hệ phó giao cảm ( sợi hậu hạch cholinergic ) và ức chế tác dụng của acetylcholin ở cơ trơn. Atropin được dùng để ức chế tác dụng của hệ thần kinh đối giao cảm. Với liều điều trị, atropin có tác dụng yếu lên thụ thể nicotin.
- Atropin được hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hoá, qua các niêm mạc, ở mắt và một ít qua da lành lặn. Thuốc đi khỏi máu nhanh và phân bố khắp cơ thể. Thuốc qua hàng rào máu, não, qua nhau thai. Thời gian bán hủy của thuốc vào khoảng 2-5 giờ. Một phần atropin chuyển hoá ở gan, thuốc đào thải qua thận nguyên dạng 50% và cả dạng chuyển hoá.
- Dùng cho trâu bò, ngựa, lợn, chó, mèo. Atropin và các thuốc kháng muscarin được dùng để ức chế tác dụng của hệ thần kinh đối giao cảm trong nhiều trường hợp như rối loạn bộ máy tiêu hoá, loét dạ dày, hành tá tràng: ức chế khả năng tiết acid dịch vị, hội chứng kích thích ruột: giảm co thắt đại tràng, giảm tiết dịch, điều trị triệu chứng tiêu chảy cấp hoặc mạn tính do tăng nhu động ruột và các rối loạn khác có co thắt cơ trơn: cơ đau co thắt đường mật, đường tiết niệu, dùng trước khi phẫu thuật, điều trị ngộ độc phospho hữu cơ, điều trị nhịp tim chậm do ngộ độc digitalis: điều trị thăm dò bằng atropin, điều trị cơn co thắt phế quản và các chỉ định khác như tiểu tiện không tự chủ, dãn đồng tử, mất khả năng điều tiết của mắt.
- Chống chỉ định: Phì đại tuyến tiền liệt (gây bì đái), liệt ruột hay hẹp môn vị, nhược cơ. Thú bị tiêu chảy do ngộ độc, hoặc sốt, suy tim, suy gan, suy thận.
- Atropin đi qua nhau thai nhưng chưa xác định được nguy cơ độc đối với phô thai. Thú non rất nhạy cảm với thuốc kháng acetylcholin nên cần tránh dùng kéo dài ở thú mẹ trong thời kì cho bú.
- Tác dụng không mong muốn bao gồm khô miệng, khó nuốt, khó phát âm, sốt, giảm tiết dịch ở phế quản. Mắt: dãn đồng tử, mất khả năng điều tiết của mắt, sợ ánh sáng. Chậm nhịp tim thoáng qua sau đó nhịp tim nhanh, trống ngực và loạn nhịp. Thần kinh trung ương dễ bị kích thích. Toàn thân phản ứng dị ứng, da bị đỏ ửng và khô, nôn. Giảm trương lực và nhu động của ống tiêu hoá, dẫn dễ táo bón. Thần kinh trung ương thất điều vận động.
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm dưới da trâu, bò 30-100mcg/kg. Ngựa 40-100mcg/kg. Heo 30-80mcg/kg.
- Các tác dụng kháng acetylcholin sẽ mạnh lên nhiều, cả ở ngoại vi và trung ương khi dùng chung atropin và các thuốc kháng acetylcholin khác. Nếu dùng atropin đồng thời với kháng histamin, butyrophenon, phenothiazin, thuốc chống trầm cảm ba vòng thì tác dụng của atropin sẽ tăng lên. Atropin có thể làm giảm hấp thu thuốc khác vì làm giảm nhu động của dạ dày.
QUÁ LIỀU VÀ XỬ LÝ
- Khi ngộ độc atropin sẽ có các triệu chứng dãn đồng tử, nhịp tim nhanh, thở nhanh, sốt cao, hệ thần kinh trung ương bị kích thích (bồn chồn, lú lẫn, hưng phấn, rối loạn tâm thần, hoang tưởng, mê sảng, đôi khi co giật). Trong trường hợp ngộ độc nặng thì hệ thần kinh trung ương bị kích thích quá mức có thể dẫn đến ức chế, hôn mê, suy tuần hoàn, suy hô hấp, rồi tử vong.
- Nếu là do uống quá liều thì phải rửa dạ dày, nên cho uống than hoạt tính trước khi rửa dạ dày. Cần có các biện pháp điều trị hỗ trợ. Có thể dùng diazepam khi bị kích thích và co giật. Không được dùng phenothiazin vì sẽ làm tăng tác dụng của thuốc kháng acetylcholin.
- Thuốc độc bảng A. Thuốc nhỏ mắt có nồng độ tối đa là 1%, thuốc tiêm có nồng độ tối đa là 0,05% và hàm lượng tối đa của dạng thuốc đã chia liều là 0,25mg, thuốc viên có hàm lượng tối đa là 0,5mg.
Trích dẫn: Dược lý thú y (Võ Thị Trà An)