10/10/2019
SÔNG HẰNG MẸ TÔI VÀ LỄ THIÊU XÁC CỦA NGƯỜI ẤN ĐỘ.
“Sông Hằng Mẹ tôi” là tên một quyển tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ấn Độ Bhairavaprasāda Gupta, xuất bản ở Việt Nam năm 1985 và cho đến nay không in lại nữa. Tôi đọc cuốn sách đó từ khi còn nhỏ và rất ấn tượng về nó. Tôi dùng tên cuốn sách để gọi cho chuyến đi đến Varanasi ngắm sông Hằng.
Tôi đã dành trọn một ngày bên bờ sông Hằng, từ sáng sớm đến tối và đến sáng hôm sau, đắm mình vào những nghi lễ kỳ bí thiêng liêng của cư dân Ấn ven bờ sông Hằng. Và tôi chưa bao giờ hết ngạc nhiên khi thấy cái cao quý ở chung với cái thấp hèn, cái bẩn thỉu trần tục ở chung với niềm tin tâm linh mãnh liệt, cái giàu có ở chung với cái nghèo khổ và muôn vàn những điều khó tin khác quanh sông Hằng.
Sau khi đã đến hết những nơi thú vị ở thành phố Agra, nhóm chúng tôi theo dự định ban đầu là sẽ đến Varanasi bằng tàu giường nằm chạy suốt đêm. Nhưng khi chúng tôi định ra ga thì mới biết là vé của chúng tôi chưa được xác nhận, chúng tôi bèn thuê một chiếc xe ô tô chạy suốt đêm đến Varanasi. Dọc đường đi, tôi nghĩ dân Ấn Độ có lẽ là những tay lái lụa nhất thế giới. Ngồi trên xe, tôi không thể nào ngủ được vì những cú bẻ tay lái ngoạn mục của bác lái xe. Và tôi nghĩ mình sống sót đến được Varanasi thì quả là một kỳ tích.
Khách sạn của chúng tôi ở Varanasi cũng là một khách sạn nhỏ, nằm trong hẻm một con đường đông đúc rất gần bờ sông Hằng. Đã biết rằng người Ấn theo Hindu giáo rất tôn thờ thần Bò Nandi, được coi là con vật cưỡi của thần Shiva, và không dám đụng đến chúng, song tôi vẫn choáng váng trước số lượng những con bò xuất hiện khắp mọi nơi ở Varanasi, thậm chí trước những đoạn đường đầy phân bò, khiến tôi vừa đi vừa tìm cách lạng lách né tránh, nếu không sẽ giẫm phải những đống phân.
Ai cũng biết người Ấn theo Hindu giáo kiêng không ăn thịt bò, nhưng họ không kiêng uống sữa bò. Họ vẫn có những trang trại để nuôi bò lấy sữa vì khi một con bò sữa về già, họ sẽ thả chúng đi lang thang ngoài đường vì bò bị cấm giết thịt, mà nuôi một con bò già vô dụng thì chi phí quá lớn. Vì thế ở Ấn Độ, số lượng bò đi hoang chỉ có tăng chứ không giảm. Ước tính ở Ấn Độ hiện nay có 200 triệu con bò đi hoang. Chúng tự do đi lại trên đường phố, ị phân vung vãi, ngủ gục ở bất cứ đâu và tự kiếm ăn hay sống nhờ vào lòng tốt của mọi người. Nếu các bạn đến Ấn Độ, các bạn xách một chiếc túi da bò hay khoác một chiếc áo da bò, các bạn sẽ không được hoan nghênh và xem là xúc phạm tín ngưỡng. Chính vì lẽ đó, tôi đi Ấn Độ xách va li bằng nhựa cứng và ba lô, túi xách làm bằng sợi tổng hợp.
Không chỉ có Hindu giáo mà đạo Jaina (Kỳ Na giáo) ở Ấn cũng cấm ăn thịt bò, xúc phạm bò cho nên đương nhiên không bao giờ tìm thấy một cửa hàng nào chế biến món ăn từ thịt bò. Tôi đi bụi ở Ấn, không có dịp vào khách sạn 5 sao của Ấn, nơi phục vụ du khách quốc tế sang trọng, nên không biết trong đấy có phục vụ thịt bò không. Nhưng tôi nhớ khi tôi ở khách sạn 5 sao ở Các tiểu vương quốc A Rập thống nhất, tuy đạo Hồi kiêng thịt lợn nhưng ở khách sạn 5 sao vẫn phục vụ món thịt lợn cho du khách nước ngoài. Tất nhiên người chế biến không phải là người Hồi giáo.
Hồi giáo cũng là một tôn giáo lớn của Ấn Độ, nên hệ quả là người Ấn để cho an toàn, các cửa hàng ăn nơi công cộng chỉ phục vụ một món thịt duy nhất là món thịt gà, vị ăn giống như gà công nghiệp của Việt Nam. Việc cấm ăn thịt bò đã được đưa vào quy định của pháp luật và ai vi phạm lệnh cấm ăn thịt bò, sẽ bị phạt ngồi tù 2 năm và đóng tiền phạt 10.000 rupee. Chính vì thế, du khách đến Ấn Độ không nên ăn thịt bò nếu như không muốn bị dân Ấn coi là tội phạm.
Cách thủ đô New Delhi chừng 1 giờ bay hoặc 10 giờ ngồi tàu, thành phố Varanasi, còn có tên là Benares, Banaras hay Kashi, được coi là điểm phải đến của bất cứ du khách nào khi đặt chân đến Ấn Độ cùng với thành phố Agra nơi có ngôi đền tình yêu Taj Mahal. Đây là một trong những thành phố cổ nhất thế giới liên tục có cư dân sinh sống cho đến tận ngày nay, được mệnh danh là thành phố của thần linh, văn hóa và tôn giáo với hai tôn giáo lớn là Hindu giáo và Phật giáo. Nhà văn Mỹ Mark Twain từng ca tụng "Benares lâu đời hơn lịch sử, lâu đời hơn truyền thống, thậm chí lâu đời hơn cả huyền thoại, và dường như lâu đời gấp đôi tất cả những khái niệm trên cộng lại".
Thành phố này ai đến lần đầu hẳn sẽ bị choáng toàn tập. Thành phố tràn ngập bụi bặm, ô nhiễm, giao thông thì hỗn loạn với đủ loại xe, trong đó nhiều nhất là xe rickshaw, một loại xe tương tự như xe tuk tuk. Đường phố cực kỳ nhỏ hẹp và đông đúc với nhiều loại phương tiện xe cộ không theo một trật tự giao thông nào, chỉ có tiếng còi xe inh ỏi và tiếng mắng chửi. Nhà cửa xây không theo trật tự nào và toàn nhà ổ chuột. Hàng quán ở khắp nơi, tràn ra lề đường, người mua kẻ bán mặc kệ chuyện mình đã cản trở giao thông như thế nào. Người dân địa phương thì bẩn thỉu, ăn mặc nghèo nàn, nhiều người đi chân đất, màu da đen nhẻm, ánh mắt nhìn trừng trừng vào du khách. Đặc biệt không hề thấy phụ nữ đi một mình trừ những bà già nghèo khổ. Tôi nghe khuyến cáo rằng phụ nữ đi một mình ở Varanasi là không an toàn. Ở đây có thể dễ dàng nhận ra ai là du khách nước ngoài không chỉ dựa vào màu da, màu tóc, cách ăn mặc, mà còn vì cái khẩu trang đeo kín mít hay vẻ mặt bàng hoàng, khiếp sợ trước những gì mình chứng kiến.
Trái với sự hình dung ban đầu của tôi về một bờ sông Hằng rộng thênh thang, với những con đường dẫn đến thênh thang, hóa ra đến sông Hằng phải đi bộ cả 1, 2 cây số trong những hẻm nhỏ trong khu ổ chuột chật chội, bẩn thỉu, đông đúc rồi từ những hẻm đó dẫn ra bờ sông Hằng. Tôi không hiểu sao lại như vậy nên hỏi anh chàng tour guide địa phương và được biết địa hình nơi này xưa nay vẫn thế. Có lẽ người dân Ấn muốn sống càng gần sông Hằng linh thiêng càng tốt.
Nơi thiêu xác người là những bãi đất trống bên bờ sông Hằng, gọi là các Ghat. Ghat có nghĩa là danh từ chỉ một chuỗi bậc thang dẫn xuống sông Hằng. Sông Hằng được phân định bởi những bậc thang kéo dài xuống bãi sông. Có lẽ thành phố Varanasi thì ở trên cao, còn sông Hằng ở dưới thấp, cho nên theo thời gian, người ta đã làm một chuỗi những bậc thang để đến gần sông Hằng hơn.
Sau khi đi xuyên qua những hẻm nhỏ, tâm trí chưa hết choáng váng vì vẻ nghèo khổ, ồn ào, bẩn thỉu mà mình chứng kiến, chúng tôi đến Ghat lớn nhất ở Varanasi, Ghat Manikarnikar, nơi hàng ngày thiêu từ 200 đến 300 xác người.
Luật ở đây là cấm du khách chụp ảnh cảnh thiêu xác. Tôi được nghe dặn là nếu có cò du lịch đến dụ dỗ du khách đến một nơi nào đó, trả tiền cho việc được chụp ảnh, thì sau khi chụp ảnh xong, cò sẽ lập tức trở mặt và đòi báo cảnh sát nhằm vòi vĩnh du khách phải chi ra số tiền lớn hơn nếu không muốn rắc rối với luật pháp. Vì vậy khi có cò đến hỏi có chụp ảnh không, tôi lắc đầu từ chối.
Tuy nhiên, cái tính ưa mạo hiểm của tôi lại trỗi dậy. Tôi quyết định lén chụp ảnh bằng cái máy ảnh đeo trước ngực, không cần ngắm, mà chỉ bấm đại với hy vọng được tấm nào hay tấm ấy, vì thấy cò cứ nhìn nhằm chằm vào chúng tôi. Tuy đã hết sức cẩn trọng nhưng tôi vẫn bị phát hiện. Lập tức một đám cò xông đến đòi bắt tôi đi cảnh sát, giọng rất hung hăng. Tôi bình tĩnh im lặng vờ như không hiểu tiếng Anh và thò tay bấm nút giả vờ xóa ảnh. Các bạn của tôi thì ra sức phân trần bằng tiếng Anh. Thế là thoát nạn, bọn cò bỏ đi. Tôi phải công nhận một điều là cò du lịch ở Varanasi rất hung tợn.
Khi tôi đến Ghat Manikarnikar đã có một số xác người đang được thiêu cháy đen thui và một xác chuẩn bị thiêu, được quấn kín bằng vải trắng. Xác để lộ thiên, chỉ lót một lớp củi, ngửa mặt lên trời, chứ không phải củi chất kín xác. Trước khi thiêu, có vài đạo sĩ Bà La Môn làm những nghi thức cầu cúng. Một người phụ nữ lớn tuổi, có lẽ là vợ, châm lửa đốt xác chồng. Tôi để ý thấy bà ta châm lửa từ phía chân. Trên bãi sông, những con bó vẫn cứ đi lang thang bên cạnh những đống lửa thiêu xác. Khi ngọn lửa bùng lên dù đứng xa xa nhưng tôi vẫn có cảm giác mùi khét do thịt người cháy lan tỏa trong không trung. Nhưng dù sợ, tôi vẫn không cưỡng được cảm giác tò mò, hai mắt cứ mở to nhìn vào những xác cháy. Có xác mới bắt đầu cháy, có xác đã cháy đen thui, có xác đã gần thành tro. Tôi nghe bảo có xác chết khi cháy rút gân, đã bật dậy và người ta phải lấy cây củi đè xác xuống.Không một từ nào có thể diễn tả cảm giác của tôi lúc đó: bàng hoàng, kinh sợ, ngạc nhiên. Tôi ra về, mà có có cảm mùi khói khét từ xác người chết, cứ bám vào da thịt mình. Đến đây tôi mới hiểu vì sao các công ty du lịch Việt Nam không bao giờ đem việc xem lễ thiêu xác ở sông Hằng vào chương trình tour của mình bởi vì nó quá ám ảnh và ghê sợ.
Theo lời kể của bạn tour guide địa phương thì nếu xác là phụ nữ thì đặt nằm sấp, xác đàn ông đặt nằm ngửa. Người châm lửa là vợ, chồng hoặc là con. Trung bình một xác thiêu thành tro mất khoảng 4 – 5 tiếng đồng hồ. Củi được thiêu xác là gỗ trầm và đàn hương, vì vậy chi phí rất tốn kém so với thu nhập trung bình của người Ấn Độ. Khoảng từ 1500 đến 2000 USD cho một lễ thiêu xác. Tour guide địa phương cũng chỉ cho tôi một lò điện nơi chính phủ Ấn Độ cho xây dựng để những ai nghèo quá thì thiêu xác bằng điện, song dân Ấn lại chỉ cho những ai bị tai nạn hay tự sát thiêu ở đó, còn thì sống chết gì họ cũng cố tìm cách thiêu xác người thân bằng nghi lễ truyền thống củi bên bờ sông Hằng. Còn nếu vẫn không có tiền mua củi, họ đành quấn xác chết bằng vải và thả trôi sông Hằng luôn.
Cũng có những người chết thả trên sông Hằng mà không được đốt xác. Đó là các bậc thánh nhân, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 18 tuổi, người bị rắn cắn. Những xác người này sẽ bị buộc vào một tảng đá và thả xuống sông Hằng. Người dân Ấn Độ tin rằng sông Hằng là con sông linh thiêng và có khả năng tự thanh lọc hết thảy. Chính vì thế, sau khi thiêu xác xong, tro được thả trôi sông Hằng và ngay cách chỗ thả tro chỉ chừng vài chục mét, người ta thản nhiên rửa mặt, súc miệng và tắm rửa. Nhưng thực tế thì sông Hằng ngày một ô nhiễm khủng khiếp.
Tôi nghĩ dù rất nghèo khổ, dù rất bẩn thỉu song người Ấn có vẻ hài lòng với cuộc sống của mình. Họ chấp nhận cuộc sống đó một cách đương nhiên và thậm chí còn có vẻ hạnh phúc. Họ không sợ cái chết và họ nghĩ rằng cái chết là một bước tiến tới hạnh phúc.
Khi đi trong những ngõ hẻm nhỏ dẫn ra sông Hằng, tôi đã choáng người khi thấy vài người đàn ông khiêng xác chết đi bộ ngang qua người tôi. Xác chết không được che đậy gì cả, chỉ mặc quần áo thường và không hề có quan tài. Hẻm thì rất nhỏ, chỉ chừng một mét rưỡi. Tôi điếng hồn nhìn cái xác chết được khiêng qua sát sạt người mình. Nhưng đó là chuyện thường ngày ở nơi này, ai khiêng xác chết ở trên đường thì cứ khiêng, người ta vẫn cứ đi bộ, buôn bán ồn ào và chẳng có ai quan tâm đến những xác chết khiêng ngang qua chỗ mình.
Ngay gần chỗ thiêu xác, có một một quán nhỏ chật hẹp, bẩn thỉu, ngồi được khoảng hơn 10 người. Quán bán Blue Lassi, tức là một loại sữa chua trộn trái cây. Người bán hàng là một chàng trai trẻ với những nét rất Ấn. Quán có lẽ rất nổi tiếng vì tôi thấy trên vách dán toàn hình thẻ của những du khách đã từng đến quán này. Tôi tiếc là không biết trước để mình cũng có thể mang theo một tấm hình thẻ dán ở đây.
Có nhiều loại Blue Lassi trộn với táo, lựu, chuối… hay thập cẩm. Dù ở rất gần Ghat thiêu xác lớn nhất, dù có cảm giác ớn lạnh, dù phải chứng kiến quá nhiều xác chết ngay cạnh đó, song tôi vẫn thấy ly Blue Lassi của tôi là một món ngon bậc nhất mà tôi đã từng nếm. Cảm giác sau khi từ một chỗ toàn xác chết về, ghé vào một quán gần đó để thưởng thức món Blue Lassi mát lạnh, cũng là một cảm giác rất đặc biệt và ấn tượng trong đời.