Giáo Lý Cao Đài

Giáo Lý Cao Đài Đạo Cao Đài nhằm hoàn thiện hóa con người và xây dựng xã hội bình đẳng, thế giới đại đồng. Về mặt tâm linh, đạo Cao Đài có mục đích giải thoát luân hồi sanh tử.

23/04/2022

THÁNH GIÁO
ĐỨC CHÍ TÔN ,
Các con ôi ! , , . Sông mê cuồn cuộn chảy , bể khổ dập dồn xao , Các con sanh sống trong cõi trần hoàn dồn dập biết mấy nỗi thương tâm đau khổ , Các con cũng vì mang xác thịt của hậu thiên cấu tạo mà lửa dục bừng bừng , lòng mê mịt nên luống chịu cho bảy tình sai khiến , giục xô đến đổi việc sai lầm tội lỗi kể chẳng hay cùng ,
Trước kia các Tôn Giáo đã Thất Chánh Truyền , dầu các con có mê muội phạm nhiều tội quá cũng còn mạnh miệng đổ thừa , chớ đến ngày nay Thầy đến nhọc công đem mối Đạo nhiệm mầu bành trướng , phô trương giữa nhân gian cốt để vẹt màn hắc ám hầu độ rỗi các con cho thoát chốn mê đồ khổ cảnh , Nếu các con không sớm tỉnh ngộ quay đầu , cứ mãng say xưa , miệt mài trong tục lụy trần ai thì há còn chối đặng rằng Thầy không dạy nữa sao ! Các con nên liệu lấy , đến ngày phán xét Đại đồng dẫu yêu thương cho cách mấy cũng không bỏ được phép công ,
Trong đời nhân loại thường chia ra hai hạng ;
QUÂN TỬ VÀ TIỂU NHÂN ,
QUÂN TỬ LÀ GÌ ?
Quân tử là một người đức tài xuất chúng , phẩm hạnh đoan trang nhơn cách hoàn toàn , tánh tình cao thượng , Người quân tử bao giờ cũng ung dung thơ thới ưa làm sự phải điều hay thuận Thiên Lý lưu hành , Đem nhơn đạo khuyến đời tùng lương cải ác , tấm lòng bao giờ cũng quãng đại vô vi thanh tịnh , không phóng túng bôn chôn mà để cho lòng dục nó khiến sai bương bả đến phải bước lần vào nẽo quấy , Mỗi việc đều xét suy đáo để , tính trước lo xa , thương người ích chúng , ham nghĩa ưa nhân , chuộng trung mến chánh , bao giờ cũng tuỳ thời quyền biến mà giữ cho được hai tiếng trung dung , chớ không thái quá bất cập , dầu cho cảnh ngộ nào thì tâm trí vẫn cứ an vui , không để cho thất tình loạn động , Vì người quân tử thực vô cầu bảo , cư bất cầu an kia mà , Cái Đức người quân tử thường như nước vậy , nghĩa là châu lưu khắp cả tứ phương , gặp tròn , gặp méo , gặp vuông , gặp dài , nước cũng chiều theo hết , lại nước cứ vẫn từ cao chảy xuống thấp , Nên người quân tử luôn luôn chịu hạ mình cho vừa lòng tất cả nhơn sanh , thì nước cứ tìm chổ thấp , cứ chìu theo khuôn , cứ mềm với chúng , mà đến chừng ai muốn cho nó tiêu mòn , sức mẻ là chằng ai làm sao hề hấn đến được lấy mảy may gì nó bao giờ ,
Người quân tử theo đời mà chẳng nhiễm đời , chìu người mà chẳng bợ người , tuỳ tục mà không đấm tục , cứ giữ tánh tình thanh bạch , tâm chí cao siêu , dầu ai dầm cũng chẳng phai , ai dũa cũng chẳng mòn , nên bả danh lợi , mồi đỉnh chung có bao giờ trêu nhữ được
CÒN ĐỨA TIỂU NHƠN lại bỏ nghĩa theo lợi , lấy lợi cầu danh , tâm tà tánh độc , nết kiêu chí hèn , Nói tắt một điều mỗi mỗi đều trái hẳn người quân tử , như trăng với đèn , như Trời với vực , Tuy nhiên người quân tử càng trốn cái danh mà danh càng rạng tỏ , càng chìu với thế mà thế vẫn tôn sùng , Còn đứa tiểu nhân lại càng chuộng cái danh , danh càng nhơ nhớp , càng kiêu với thế mà thế vẫn thị khinh , Như vậy mà bởi cớ sao hạng Quân tử ít người làm , Còn thói Tiểu Nhơn thì nhiều người học ; Ôi thiệt đáng buồn cho nhơn loại biết bao ,
Đây Thầy giải qua DƯỠNG SANH TÁNH MẠNG ; Thầy lập Đạo tại xứ Nam nầy nhằm thời kỳ cuối cùng của Nhơn loại , Các con ôi ! Vách tường sắp đổ , nạn khổ hầu kề , THẦY há nỡ điềm nhiên tịnh tọa để xem bầy con sắp tận vong tiêu diệt sao ? THẾ THẦY không nài g*i khổ nhọc nhằn đem mối Đạo mà cứu vớt các con trong hồi khẩn cấp nầy , Các con khá biết ,
ĐẠO có ba Ngươn , ấy là cái số cuối cùng của Trời Đất , Trước hết mở đầu là Thượng Ngươn , THƯỢNG NGƯƠN chính là NGƯƠN TÁI TẠO , Là Ngươn gầy dựng CÀN KHÔN VŨ TRỤ , Vậy khi mới tạo Thiên lập địa Nhơn loại sanh ra thì tánh chất con người rất đổi hồn hồn ngạc ngạc , còn đang thuần phát thiện lương , nên chi cứ thuận tùng Thiên ý mà hoà hiệp dưới trên tương thân tương ái , Thời kỳ ấy người người đồng hấp thụ khí thiên nhiên nên hằng cộng hưởng thanh nhàn , khoái lạc ,vui say mùi Đạo Đức tháng ngày , Bởi đó Thời THƯỢNG Cổ có danh là đời THƯỢNG ĐỨC , THƯỢNG NGƯƠN ấy cũng kêu là người THƯỢNG ĐỨC nữa ,
Kế đó bước qua TRUNG NGƯƠN thì Nhơn loại bất nhứt , tập quán theo thói đời , thâm nhiễm nhiều nết xấu mới lần xa mãi điểm thiên lương , bèn cậy sức mh mà hiếp bức lẫn nhau , chém giết hại nhau , tương sát tương tàn , mạnh còn yếu mất , nên mới sanh ra biết bao trường quyết chiến , không còn kể đồng loại , đồng chủng là gì , Đã phai lợt tình nghĩa cốt nhục đồng bào , Bởi đó đời TRUNG CỔ có tên là đời THƯỢNG LỰC mà TRUNG NGƯƠN ấy cũng kêu là đời TRANH ĐẤU nữa ,
Tiếp đến HẠ NGƯƠN , cứ tranh đấu càng ráo riết dữ dội gớm ghê , Nhơn loại chê sức mạnh dùng não cân nên mới bày ra chước quỉ mưu tà kế sâu bẫy độc , thật là khốc liệt phi thường , Song đó cũng là tự nhiên càng tranh đấu mới càng tấn hoá , ngặt càng tranh đấu lắm , càng ác liệt lắm , Nếu tranh đấu thét phải ngay đến thời kỳ tiêu diệt , Bởi đó đời hiện tại là đời mạt kiếp
Còn HẠ NGƯƠN nầy gọi là NGƯƠN ĐIÊU TÀN , nhưng hết loạn rồi tới trị , vong tất Hưng nên cái NGƯƠN TIÊU DIỆT sẽ bước tới NGƯƠN BẢO TỒN là Ngươn ĐẠO ĐỨC phục hưng để sắp đặt lại như đời THƯỢNG CỔ , Thế nên gọi là NGƯƠN TÁI TẠO ,
Như vậy Nhơn loại bước qua thời kỳ nầy qui nhứt thống , đại luân hồi của Thiên địa , tính ra thì đã mười hai vạn chín ngàn sáu trăm năm , nên đã đến thời kỳ tạo Thiên lập địa một lần nữa ,
Các con ngày nay Thầy đã đến đây rồi là Thầy muốn ngữa tay mà tế độ các con , Vậy thì các con nương nếu lấy Đạo mầu , ráng luyện chơn tánh cho thuần dương thì ắt tránh được cuộc vinh hư tiêu trưởng của đời sắp đến nghe các con ,
Vã lại cái sự tu hành là phương giải thoát cuộc đời khốn nạn khổ tâm , nên người Quân tử hằng chú trọng về tinh thần mà cố gắng trau giồi Đạo Đức , Các con phải biết rằng hễ muốn cho tinh thần tinh khiết thì phải giữ gìn cho thân thể cho tráng cường , Muốn dưỡng phần hồn phải nuôi phần xác , Bởi thế các con chẳng nên trọng vô mà bỏ hữu , hay trọng hữu mà bỏ vô , hữu vô phải nương nếu lẫn nhau cho mật thiết mới dược , Phải tu hành mà đừng ép xác hủy mình , vì hễ xác phàm mà khuơng kiện thì Linh Hồn mới đặng thông tri ,
Đây Thầy nói sơ sự nuôi phần hồn cho các con hiểu rõ ,
PHẬT GIÁO thì chú trọng HƯ VÔ TỊCH DIỆT để nuôi lấy tinh thần , dụng phép thiền tọa mà giữ lòng không cho xao động ,
TIÊN GIÁO thì thích sự VÔ VI để tự nhiên tuỳ tùng Thiên Lý , cứ mà gom thần định trí cho đến chổ yễu yễu , minh minh , quyết chẳng để cái tâm nó lưu luyến hồng trần mà trợ lịnh cho Thất tình , lục dục dấy lên làm quấy ,
NHO GIÁO thì cần TỒN TÂM DƯỠNG TÁNH , chỉ tịnh tọa mà bảo dưỡng cho còn cái Tâm lạc thiện , háo đức , cái tánh tiết độ cao siêu ,
Còn Đạo của Thầy , các con biết TU LUYỆN rồi thì bốn buổi công phu , lọc cái TINH cho trong sạch đặng bổ dưỡng phần HỒN , Vậy mỗi ngày các con công phu bốn buổi là nuôi Linh Hồn , các con chẳng nên bỏ thời nào , đặng Linh Hồn nhờ khí ấy mà sáng suốt , khôn ngoan , cứng cát , Vậy thì giờ công phu của các con là giờ cho Linh Hồn ăn uống , Ngoài các con dưỡng trau phần Linh Hồn cho tinh khiết , cốt nhứt là đừng để cho tấm thân lay động phóng túng ra ngoài , Cần phải giữ cho tự nhiên yên tịnh luôn luôn mới được ,
Vã chăng con người có chi báu trọng cao quí ,cần yếu bằng cái LƯƠNG TÂM , Nếu cái LƯƠNG TÂM ấy ví không còn nữa , nếu để tán tận đi rồi thì con người còn chi quí báu nữa đâu , mà con người dường ấy tất có khác gì kiến .bọ ,dế , trùng sống kia như chết , có cũng bằng không , Hởi ôi là khổ ,
Nay Thầy đã truyền bá cho các con , các con phải ghi nhớ lấy lời Thầy dạy , ráng lo dưỡng tánh tu tâm lắm lắm mới nên , Hễ muốn cho Linh Hồn trong sạch nhẹ nhàng thì các con hằng ngày phải lo tập tánh cho thiệt không không , đừng ghen ghét , giận hờn ,buồn lo , sợ sệt chi , tất cả để nuôi lấy tư tưởng cho thanh cao , phải ép kiềm cái ý muốn của mh , chớ để cho nó chấn động dậy bừng mà làm điều sái quấy ,
Trong thân thể con người phải biết chia ra phần nào lớn , phần nào nhỏ , đặng nuôi phần lớn bỏ phần nhỏ cho lớn khỏi mất quyền , mà nhỏ đừng lấn thế , chớ nên bơ thờ lại để cho phần nhỏ lẫy lừng ép đè phần lớn ,
Lớn ấy là cái LƯƠNG TÂM , còn nhỏ ấy là TAI với MẮT , LƯƠNG TÂM ấy chính là thần minh của TRỜI ĐẤT đã phú cho , còn TAI MẮT là mối giặc của LƯƠNG TÂM , mối khổ của các con , Rồi dằn chặn xuống năm (5) hòn ngũ trược thì ôi thôi có dễ gì mà đào xới nó lên mà đem cái LƯƠNG TÂM ra khỏi được , Bởi vậy làm người là phải cần chủ lấy cái Tâm cho lắm , đừng vọng niệm sự tà tâm , Chẳng ghét ganh , không thù oán , cứ miễn sao Tâm trí mãi được yên vui là quí nhứt , chớ gì miếng ngon của quý mà hại đến linh hồn , tham chi sắc đẹp mùi thơm mà lấp chôn linh tánh ,
TU cũng cần phải cử kiên vật thực hằng ngày cho chín mới nên , Đã biết ăn cho ngon miệng mới nuôi được thân phàm , Song nuôi thân cho béo mà hại đến linh hồn thì sao ?
Bởi vậy như loài Ngũ Uẫn là loại ăn vô có thể làm cho yếu ớt linh hồn lẽ nào không cử , Còn bốn vách của đời là : SẮC . TÀI , TỬU , KHÍ mà nguời TU nếu để mang vào thì thôi chớ có mong chi siêu rỗi nữa ,
SẮC hễ gần thì tinh thần hôn mê ,
TÀI tham đến thì tâm chí lo ra ,
TỬU hễ say mê thì kim đơn hư hõng ,
KHÍ hễ còn vướng thì xá lợi tiêu tan ,
Mà cái độc nhất chỉ là cái giận , các con dẫu có công phu cho đến mấy chục năm , nếu các con để cho cái lửa giận một phen lừng cháy , thì cũng đủ thiêu đốt kim đơn tan ra nước hết , Thậm chí những vật tầm thường như thuốc , trầu mà không bỏ được , tất có hại cho kim đơn nữa đó ,
Thế nên các con khá rỏ mà dè dặt yếu trọng LƯƠNG TÂM cho lắm ,
Thăng
Sao lục y nguyên văn , BÁO ÂN TỪ ,
Ngày 24 / 04 / Nhâm Ngọ , ( DL : 4 /6 /2002 ),
Hiền Nhơn ,
Lê Tâm Chí ,

19/04/2022

ĐÒ CHIỀU

Những ai đã từng đối diện với cảnh đò chiều sẽ cảm nhận được nỗi khó khăn vừa lo lắng cho cảnh khổ không có đò qua sông vừa lo cho ở nhà mọi người trông ngóng . Để diễn tả cảnh này có một nhà thơ kiêm họa sĩ đã vẽ buổi Đò Chiều và ghi lại hai câu thơ sau :

" Sương đã dâng lên CHIỀU lắng xuống,
Chuyến ĐÒ sắp tách bến sang sông ! "

-Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn khai mở cũng vừa đúng vào buổi hạ ngươn mạt kiếp , là ngươn cuối cùng của một chu kỳ vận hành tấn hóa của càn khôn vũ trụ . Sự mở Đạo của Thầy cũng không khác gì buổi đò chiều , vì thế mà Đức Mẹ đã nhiều lần giục giã chúng ta :
" Con chớ có dần dà trể bước ,
Trễ bước rồi không được an thân ,
Muôn năm mới có một lần ,
Lần ba không gặp vô phần lắm con "

- Chuyến đò chiều của người lữ khách nếu trễ thì đợi đến sáng mai sẽ có chuyến đò của ngày hôm sau .
Nhưng Chuyến Đò Đại Đạo Tam Kỳ do Thầy Khai mở muôn năm mới có một lần đây là cơ hội cuối cùng và tối hậu để chúng ta xuống đò trở về bến Khởi Nguyên . Vì từ bến Khởi Nguyên ra đi Thầy đã dạy :
" Một sứ mạng Thầy dành hai ngã , một ra đi một trở lại Thầy ".
Nếu không mau bước xuống đò chiều là phải chờ đợi đến thất ức niên sau ! Ôi không có gì bất hạnh cho bằng .
Trong buổi đàn ngày 19 tháng giêng năm Đinh Mão( 20-2- 1927) Đức Chí Tôn có dạy : " Tạo hóa đã sắp bày độ dẫn , nhuần gội ân huệ cho sanh linh trong buổi hạ ngươn này ... Ta vì đức háo sanh , mượn giọt từ bi hội Tam giáo mà rưới Khắp Càn Khôn để độ rước những bậc chí thành đọa trần , TRƯỚC KỲ Thiên điều hình phạt .
Họa Âu , tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt gieo sầu , đổ thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả càn khôn này .
Ai Mau bước đặng gặp mối Chánh dẫn truyền mà lần hồi lập công chiết quả để lánh muôn điều phiền não về sau . Chúng sanh khá biết cho .."

Thế nên Thầy đã dạy :

" Trời chiều , đò chót rán qua mau ,
Trể chuyến này đây khổ biết bao ;
Bốn hướng mịt mù không nẻo tới
Năm nơi hắc ám khốn đường sau !
Cọp beo gầm giỡn trên rừng rậm ,
Trăn rắn đùa bơi dưới vực sâu ;
CHỈ CÓ THUYỀN ÔNG LÀ THOÁT CHẾT.
Kêu nhau mau xuống , xuống qua mau . "

Nhưng cũng vì vô minh che lấp , nên con người không biết được điều hư lẽ thực cứ lúng túng trong đường danh lợi rồi tạo nghiệp .
Nên Đức Hải Triều Thánh Nhân đã dạy :

Đời nhằm lúc phân tranh tiêu diệt
Ai thấu cơ hư thiệt mà lường ;
Liên miên chồng chất tai ương
Nhơn sanh lúng túng trong đường lợi danh .
Mãi mãi cứ chạy quanh xin xỏ ,
Mãi mãi toan trông đó ngó đây ;
Bao nhiêu cho túi được đầy
Hay là phải chịu họa lây , tội tràn "
- Và cũng vì thế mà Đức Chí Tôn khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ :

"Trời vì thương chúng sanh khổ não,
Bèn Khai sinh Đại Đạo cứu đời ;
Thoát vòng bể khổ trần vơi ,
Khỏi vòng luân chuyển luân hồi đọa sa "
- Khi nói về chuyến Đò , thiết nghĩ ta phải hiểu là phương tiện . Vì lẽ , ĐẠO là mặc nhiên bản thể , vô thủy, vô chung , là cơ quan sanh hóa muôn loại vạn vật , là cơ vận chuyển càn khôn vũ trụ . Còn các tôn giáo được ví như những phương tiện để cảm hóa nhân sinh hay là những chuyến đò đưa nhân sinh từ bờ mê qua bến giác để về được với ĐẠO , do đó tôn giáo thì có nhiều mà ĐẠO thì chỉ có MỘT . MỘT là chân lý vậy . Đạo Trời biến hóa vô thủy , vô chung , nhưng trước sau bản thể vẫn là MỘT . Nói đến Đạo là nói đến chân lý . Chân lý rất giản dị , cái giản dị của chân lý là sự "gặp gỡ " nhau , gặp gỡ nhau ở lẽ MỘT và MỘT cũng là Ngôi nhất nguyên .

Thầy lược giải huyền vi số " MỘT"
" MỘT" là Nhất Quán vĩnh tồn sinh ;
"MỘT " là vốn diệu linh tiến hóa
"MỘT" là sinh tất cả muôn loài ,
Khắp trong vũ trụ rộng dài ,
Đều do một Đạo Cao Đài hóa sinh "

- Và Đức Chí Tôn cũng đã dạy :
" Đạo là ngôi nhất nguyên chủ thể ,
Đạo cũng là đồng thể vạn linh ;
Từ trong vạn vật hữu hình ,
Nhơn thân xã hội gia đình nước non .
Đạo là lẽ các con đang sống ,
Đạo là quyền cao trọng chở che ;
Thu - Đông mãn đến Xuân - Hè ,
Vận hành Thiên Đạo mọi bề dưỡng nuôi ,
Đạo chẳng luận ở ngôi vương bá,
Đạo không phân sằn giả lâm bô;
Dấn thân trên nẻo thế đồ ,
Con mang cái Đạo từ giờ mới sanh .
( Thiên Lý Đàn Ngọ Thời 13.4 Đinh Mùi 1967 ) .

Qua đó ta biết được Đạo là cứu cánh còn tôn giáo là phương tiện . Cũng vì tôn giáo được ví như những chuyến đò nên Đức Đạo Thoàn Chơn Nhơn giáng đàn tại Vĩnh Nguyên Tự đã nói như thế này :
" Người muốn tu hành lão chỉ cho ,
Qua sông phải tạm mượn con đò ;
Sang bờ vạn pháp nên rời bỏ ,
Một túi càn khôn vạn chưởng cơ ".
Trong câu " Qua sông phải tạm mượn con đò " ở đây có nghĩa là cần phải nương theo cái phương tiện tôn giáo để về bến giác , chứ tôn giáo không phải là cứu cánh và đến được bến giác thì phải rời khỏi cái phương tiện . Ở đây tôn giáo được xem như là con Đò là phương tiện hay như ngón tay Đức Phật chỉ ánh trăng . Và nói về cảnh Đò Chiều thì Đạo Trưởng Huệ Lương sau khi thoát xác , đắc phẩm vị Quảng Đức Chơn Tiên cũng về đàn tâm sự :
" Nhìn nhau bỗng rưng rưng giọt lệ ;
Nỗi mừng thương huyng đệ Thiên ân ,
Mừng vì đường lối chánh chân ,
Thương vì sứ mạng lắm phần gay go ,
Thôi thì thôi CHUYẾN ĐÒ buổi chót,
Lòng dặn lòng đắng ngọt chớ nao"

- Qua đó ta thấy Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là CHUYẾN ĐÒ cuối cùng mà Đức Chí Tôn đã mở ra để đưa con cái của Ngài trở về bến khởi nguyên hầu lập đời Thượng Ngươn Thánh Đức . Cùng ý nghĩa tôn giáo là chiếc đò để đưa nhân sanh trở về bến khởi nguyên .
Đức Ki tô giáng dạy ở Hườn Cung Đàn:
" Thế gian ai cũng qua ĐÒ
Sang bờ Giác ngạn lần dò đi lên .
- Như vậy khi sang được bờ giác chúng ta lại phải rời khỏi con đò để tiếp tục con đường tu hành ở cõi trên . Điều đó có nghĩa rằng nếu sống ở cõi nhị nguyên nầy mà ta không vận dụng hết phương tiện là pháp môn TAM CÔNG của Đại Đạo để tu chứng thì sau khi rời khỏi con đò ta lại phải tiếp tục tu học rất khó khăn
đúng như câu " Sang bờ Giác ngạn lần dò đi lên " chữ LẦN DÒ cho thấy nỗi khó khăn đó.
Nhưng hiện nay thế nhân đang lặn hụp trong cảnh trần , bon chen , tranh giành giữa buồn vui được mất . Mấy ai hiểu được cảnh đò chiều ! Đúng như lời Đức Quan Âm đã dạy :
" Thương kẻ tục dãi dầu sớm tối ,
Chốn hồng trần không lối thoát ra ;
Thế gian cứ tưởng là nhà ,
Lo xây kiên cố ở mà muôn năm " .

14/04/2022

LỢI ÍCH VIỆC CÚNG TỨ THỜI

Người không biết Đạo cho rằng cúng kiếng là ỷ lại Thần quyền. còn người trong cửa Đạo cho rằng cúng Kiếng có tác dụng rất hay về mặt đạo đức, nên tôn giáo nào cũng trọng sự cúng kiếng. ĐỨC CHÍ TÔN có dạy rằng “ luôn dịp Thầy nói cho các con biết, cúng tứ thời có ích cho các con lắm, chứ không phải có ích chi cho THẦY, nếu cúng được thường thì lòng dạ mở mang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bệnh tiêu trừ.

ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT giáng cơ dạy rằng:

“các em phải lo cúng kiếng thường:
- Một là tập cho chơn thần gần gũi các Đấng Thiêng Liêng cho đặng sáng lạn.
- Hai là cầu khẩn với ĐỨC ĐẠI TỪ BI tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.
- Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẻ tự nhiên.
- Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhất là khiếu lương tri, lương năng của các em nhờ đó mà lần hồi ra mẩn huệ.”

Thất Nương DIÊU TRÌ CUNG cũng có viết:
“lễ bái thường hành tâm Đạo khởi”

Như vậy việc cúng kiếng hằng ngày giúp cho người tín đồ mở được trí huệ, tức cái trí càng ngày càng thêm sáng suốt.

Nếu trong cuộc sống hằng ngày bản thân không trong sạch, hành động mình thất đức, lời nói bất nhơn, cách đối xử mình tàn ác, thì dù chay lạc suốt đời, cúng lạy tứ thời, hiến dâng lễ vật đầy chùa thất cũng không được sự hộ trì và cứu rỗi của ĐỨC CHÍ TÔN.

Chúng ta cúng lại ĐỨC THƯỢNG ĐẾ là để tưởng nhớ và biết ơn đã sinh ra linh hồn ta và dùng khí sanh quang nuôi dưỡng chơn thần ta, chúng ta cúng lạy các Đấng Tiên Phật là để tưởng nhớ tấm gương cao cả của các Đấng ấy hy sinh trọn đời lo cứu độ chúng sanh, chúng ta không nên cúng lạy với tinh thần vị kỷ cầu lợi cho mình, cúng Phật để cầu Phật ban ơn cho mình, cúng Tiên để cầu Tiên ban phước cho mình mà nên cúng lạy với tinh thần tôn kính và nguyện noi gương các Đấng ấy.

ĐỨC CHÍ TÔN dạy: “Phần nhiều trong các con chẳng lo thờ kính Thầy, tưởng đem Thầy vào nhà là cầu một sự lợi ích riêng cho gia quyến vậy thôi, chứ không hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm của các con.”

11/04/2022

Tất cả chúng ta vẫn đồng-ý rằng vạn-hữu là vô-thường, cuộc đời là ảo-mộng, danh-lợi là phù-vân… Thế mà một số người vẫn bận-rộn với cuộc đời, mãi-mê đeo-đuổi theo danh-lợi … không chịu dành thì giờ dưỡng-tánh tu-tâm. Một số người tuy có đạo-tâm, nhưng luôn than-phiền rằng luôn bận-rộn với gia-đình, với xã-hội, nên thì giờ dành cho tu-học bị hạn-chế.

Về vấn-đề này Đức Hộ-Pháp đã nói rằng :
“Có kẻ nói rằng mắc lo gia-đình, không lo đạo được là phi-lý. Đạo là trường học đạt đại gia-đình, đạo là trường thi lập-vị, sao lại không làm được. Tại mình làm-biếng học, học đặng hành, nên hư do tại mình, không phải do Chí-Tôn và cũng không phải do Đạo.”
(Trích thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp tại Đền-Thánh ngày 04/01 Mậu-tý – 13/12/1948).

Trong một ngày 24 giờ có lý-do nào vì sinh-kế mà con người phải dành trọn thì giờ để kiếm ăn… chỉ vì họ có quá nhiều tham-vọng, đã giàu sang rồi lại còn muốn cho hơn thế nữa… Thời nay nhiều người mãi-mê với công việc, cho sự giàu-sang là mục-đích của sự sống, nên họ đã dồn tất cả thời-gian của cuộc sống vào mục-đích ấy, vì vậy đôi khi họ đã tạo ra sự phiền-não cho chính mình. Có mấy người biết dùng bớt một ít thì giờ đó cho nhu-cầu tâm-linh, hoặc kết-hợp thì giờ làm ăn với tu-luyện, do đó Chúa Jésus đã nói rằng:
“Con lạc đà chun qua lổ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa” (Mt: 19,25).

Đức Chí-Tôn đã dạy rằng:
Tâm thành có thuở nghiệp nhà nên,
Đạo-đức khuyên con cứ giữ bền.
Hễ muốn bữa cày buôn bữa giổ,
Phân thân đâu đặng hưởng đôi bên.
Thi văn dạy Đạo.

Nhưng ngặt nỗi nhiều người tu “Bữa cày không muốn bỏ, bữa giổ cũng muốn ăn”, nghĩa là áo mão cân đai của đạo cũng muốn mang, mà sự giàu sang của trần-thế cũng muốn hưởng, nên đã khiến cho đạo đời dang-dở !!!

Trong sưu-tập sau đây nhằm cống hiến cho chúng ta một bí-quyết để có vô-số thì giờ dành cho mình tu-học và tạo sự an-vui, hạnh-phúc cho chính mình. Đây là một phương-tu nặng về thực-hành. Nhiều môn-đồ đã công-phu theo đường-hướng nầy họ đã thấy có kết-quả tiến-bộ rõ-rệt trong đời sống, chắc-chắn một phần là do sự phong-phú của pháp-môn, một phần do sự tinh-tấn trong thực-hành, nhiều người cho biết là nếu công-phu nghiêm-túc thì sẽ thấy kết-quả rất rõ-rệt… do đó Đức Hộ-Pháp đã khẳng-định rằng:
“Đạo chẳng phải nơi lời nói mà tại nơi kết-quả sự-thật mình làm… Cái khó-khăn của Đạo chẳng phải ở nơi giảng-dạy mà ở sự thực-hành…”
(Theo Phương tu Đại Đạo của Đức Hộ-Pháp).

Vì nếu chúng ta không chịu thực-hành thì dù cho phép tu có huyền-nhiệm đến đâu cũng vô bổ, tỷ như một người chỉ nhìn đồ ăn, mà không ăn, hoặc cho là mình ăn không được, thì chẳng giúp-ích gì cho thân xác họ cả. Trường-hợp này Đức Hộ-Pháp cũng đã cảnh-giác rằng :
“… Coi chừng !!! Bần-Đạo khuyên một điều: đừng để quá đói mà chết đa !!!”
(Thuyết-đạo của Đức Hộ-Pháp tai Đền-Thánh đêm 01 tháng 11 Mậu-tý /01-12-1948).

03/04/2022

Đối với những người có tâm trạng u hoài, đau đời, xót thế có lòng ái rất thương sanh, thường băn khoăn đến vấn đề nguồn gốc thân phận của con người những câu hỏi như : con người là ai ? đến cỏi trần làm chi ? thát rồi về đâu ? tại sao đời sống không đồng điều, đầy dẫy những tai ương hoạn nạn…
Thảm trạng loài người hiện nay chỉ họ không quan tâm đến mình là ai, tại sao họ lại có mặt trên thế gian. Thậm trí ở một số người họ không biết được cả lẻ thật của cuộc đời và mục đích sự sống, nên khi họ đã có được cuộc sống, thì chỉ biết tranh giành sự sống riêng cho mình, chẳn cần đối hoài thương tưởng đến sinh mạng kẻ khác. Sự kiện này là nguyên nhân chính tạo ra những áp bức bóc lộc khủng bố chiến tranh…

28/03/2022

Chúng ta ở vào thế kỷ văn minh vật chất, thêm gặp buổi khó khăn, con người mảng chật vật về kiếp sống còn, lo cho hiện tại chưa kham, ít ai được tâm trí rảnh rang nghĩ tới những việc cao xa, sâu kín.

Cái trạng huống ấy còn kéo dài, nhiều người rồi đây không khỏi bị lôi cuốn theo làn sóng duy vật mà bỏ hẳn tinh thần đạo đức bỏ cả quan niệm thiện ác.

Nhận thấy cái viễn cảnh ấy, chúng tôi chẳng quản tài sơ trí thiển, soạn in quyển nhỏ nầy với những bằng chứng về Luân Hồi Quả Báo, để anh chị em cùng xem mà suy nghiệm.

Vốn không phải một công trình sáng tác, mà là một công trình sưu tập, sưu tập những giáo lý và học thuyết của các đấng tiền nhân, sưu tập những chuyện xưa tích nay về "KIẾP LUÂN HỒI" và "LUẬT NHƠN QUẢ" có thể gây ảnh hưởng sâu xa cho nhơn tâm thế đạo giữa sức cạnh tranh của hai thuyết Duy Tâm và Duy Vật.

Thừa biết có nhiều khuyết điểm không thể tránh, chúng tôi cầu xin các bực cao minh đại đức vui lòng điểm xuyết, cho quyển sách nhỏ nầy được đầy đủ hơn trong kỳ tái bản.

Mùa Xuân năm Bính Thân
NGUYỄN TRUNG HẬU và PHẠM TẤN ÐÃI

20/03/2022

TU CHƠN THIỆP QUYẾT

NGỌC lịnh ban hành khải cửu cung,
HOÀNG môn xuân sắc, tượng ung dung,
THƯỢNG hành hạ hiệu đô công quả,
ÐẾ Ðạo hoằng khai chiếm thượng phong.

Cung Bạch Ngọc ngự lâm bửu tọa,
Thọ chư Thần triều hạ đã yên,
Thân thân giá hạnh Nam Thiên,
Trước xem Tam Giáo, cháu Tiên con Rồng.

Ðã đôi kiếp dày công nhọc sức,
Dạy chúng-sanh kỉnh Phật thờ Trời,
Thương thay cũng tại số người,
Ngạo lời Thánh-Huấn, kỉnh lời quỉ vương!

Lòng chẳng kể cang thường là đạo,
Dạ hằng lo hung bạo làm đầu,
Thấy vầy, THẦY phải nghĩ sâu,
Tam Kỳ Phổ Ðộ năm Châu phen nầy.

Lời Thầy phán, rẽ mây, vén ngút,
Kinh Thầy ban, chạm ngọc khảm vàng,
Khác nào rọi đuốc chỉ đàng,
Khuyên con tạc dạ ghi xương chớ rời.

Sách chép chữ: “Khôi khôi Thiên võng“,
Ðời ghi câu: “Lộng lộng lưới giăng“,
Nhặt thưa, mau chậm, cân phân,
Mựa rằng sơ sót, mắt Thần không sai.

Thầy đã dạy nhiều bài vàng đá,
Con nỡ đành chẳng dạ sắt đinh,
Con hư, Thầy phụ chẳng đành,
Con nên, Thầy được phỉ tình ước ao.

Ðời hằng nói: “Trời cao có mắt“,
Sách thường biên: “Thái nhứt vô hình“,
Minh mông, đồ sộ, rộng thinh,
Mà soi xét đủ tình hình thế gian.

Ðây giáng bút ít hàng vắn tắt,
Ðặng trao lời vuông tấc nhiệm mầu,
Chớ rằng: chẳng tiếng cao sâu,
Khuyên thường chữ dạ, mựa hầu sai ngoa.

Ơn cúc dục: Công Cha, Nghĩa Mẹ,
Ðức sanh thành: nuôi bé, dạy khôn,
Tục rằng: “Cây cội nước nguồn“,
Cây xanh nhờ có nước luôn tư mùa.

Cùng bạn tác, không dua, không nịnh,
Với anh em, đừng phỉnh, đừng phờ,
Thấy người quyền quý đừng mơ,
Gặp người hoạn nạn chớ lơ lảng lòng.

Ðạo Quân Tử, vợ chồng gây mối,
Mối cang thường, dòng dõi trổ nên,
Một lòng một dạ vững bền,
Sớm khuya dạy bảo, nhủ khuyên ngọt ngào.

Tình máu mủ đồng bào cốt nhục,
Cũng rún nhau, một cục xắn chia,
Ðừng toan chước quỉ phân lìa,
Ở cho hòa nhã, tiếng bia danh đồn.

Ðạo thần tử, lo tròn phận sự,
Nghĩa tôi con, nắm giữ thân danh,
Sao cho công toại danh thành,
Sao cho muôn thuở sử xanh tên đề.

Cân Tạo Hóa nhiều bề mắc mỏ,
Máy Kiền Khôn hiếm chỗ cam go,
Nước đời sâu chống, cạn dò,
Ðừng chơi biển thẳm, chớ mò lạch khơi.

Thần Tiên đã bày lời trung chánh,
Thánh Hiền còn thêm gánh nghĩa nhơn,
Thương đời, chẳng biết công ơn,
Chê bai thấp thỏi, chờn vờn cầu cao.

Muốn đặng ngọc thì vào non thẳm,
Muốn tìm vàng phải ngấm biển sâu,
Muốn cho phú quí, công hầu,
Thì tua gắng chí dãi dầu tuyết sương.

Ai cũng muốn Tây Phương lạy Phật,
Sao không lo Thánh Thất chầu Thầy,
Vì con, Thầy mới đến đây,
Cạn phân lợi hại, tỏ bày thiệt hơn.

Phải tích đức, tu nhơn làm trước,
Lo tu thân, tác phước cho cần,
Trên đầu có Thánh, có Thần,
Có Trời, có Phật cầm cân chẳng lầm.

Ðừng tưởng chỗ tối tăm chẳng thấy,
Chớ tưởng điều phải quấy không soi,
Có câu: “Khuynh phúc tài bồi“,
Nước sông ròng kém, máy Trời vần xây.

Vầng nhựt nguyệt đêm ngày soi xét,
Lẽ âm dương hàn nhiệt giao thông,
Có câu: “Thiên Ðịa chí công“,
Họa dâm, phước thiện, mảy lông chẳng chừa.

Ðừng tưởng lấy vải thưa che Thánh,
Chớ tưởng dùng sức mạnh qua Trời,
Ðáng thương mà cũng đáng cười,
Vì lòng kiêu ngạo dễ ngươi cao dày.

Lòng bất nhẫn, thêm bày ít đoạn,
Dạ từ bi, phụ giảng vài bài,
Khuyên con tạc dạ chớ sai,
Khuyên con chớ thấy dông dài bỏ qua.

Nên xa tránh dâm tà sắc dục,
Hư thân danh, điếm nhục tổ tông,
Hại nầy, thiệt hại vô cùng,
Phật, Trời chẳng chút thứ dung tội nầy.

Vì kiếp trước dẫy đầy âm chất,
Sa mê dâm, phước đức tiêu mòn,
Hại mình, hại vợ, hại con,
Hại luôn sự nghiệp, hại dồn đời sau.

Chước quỉ quái, lòng sâu, dạ độc,
Kế tinh yêu, nước đục béo cò,
Lập mưu thả lưới giăng dò,
Hại người lương thiện, ấm no thân mình.

Người cậy thế khôn lanh xảo trá,
Trời dành phương nhơn quả trả vay,
Phủi tay chẳng kíp thì chầy,
Reo cười chưa thỏa, xin mày, không cơm.

Ðành búng rảy, ngày đơm tháng giỗ,
Nỡ phụ phàng, chim tổ, người tông,
ỷ mình đủ cánh đủ lông,
Quên ơn Cha Mẹ, phủi công Ông Bà.

Tội bất hiếu, phui pha đâu có,
Chữ vô tư, tỏ rõ phải không?
Kiếm, đao, địa ngục song song,
Ðem vào trước dạy, vở lòng phanh gan.

Chủ lường gạt buôn gian bán lận,
Tớ gian tham, lời chận, lỗ thêm,
Miếng môi chuốt ngót cho êm,
Lường công tiếc việc, dao ghim đầy lòng.

Phường sâu độc, toan phòng ngọt mật,
Tánh cưu mang, nhử bắt giết ruồi,
Mưu sâu gẩm lại than ôi!
Hồi đầu báo ứng, kêu Trời muộn thay.

Ngày chí tối, phô bày nanh vút,
Sớm cùng trưa, xúi giục kiện thưa,
Xiết bao kế lận, mưu lừa,
Ôm gồm hai phía, đỏng đưa đôi đàng.

Cậy quyền thế tham quan ô lại,
Giả xưng hô quí phái cao môn,
Líu lo ba tấc lưỡi dòn,
Ðã thâu của báu, lại bòn đồ xưa.

Giọt thán oán như mưa thấy thảm,
Tiếng bi ai dường sấm bên tai,
Sống cho vạn ách, thiên tai,
Thác cho kíp kíp, đầu thai bồi thường.

Dối Thần Phật, gạt lường tế độ,
Phỉnh chúng sanh, tu bổ chùa chiền,
Trọng tăng kỉnh Phật thiêng liêng,
Lòng thành dâng cúng, bạc tiền sá chi.

Nghề đồng cốt, khinh khi Tiên Bụt,
Nghiệp bóng chàng đàn đột hư vô,
Xác Ông, xác Cậu, xác Cô,
Dưng chay, cúng mặn, thế đồ vớt vong.

Chẳng hiểu chữ: Sắc không, không sắc,
Chẳng thông câu: Không có, có không,
Giam vào vô để lao lung,
Chờ ngày Phán Ðoán Ðại Ðồng thế gian.

Kẻ bợ đỡ, mua quan, bán bạn,
Tánh nịnh lùa, giả dạng cầu thân,
Cũng phường mọt nước, sâu dân,
Phú cho địa ngục trầm luân giam cầm.

Phô những lũ tìm tâm ích kỷ,
Khắp các phường tính kế hại người,
Hại người, mình lại vui cười,
Hỏa khanh địa ngục, đốt đời chẳng dung.

Răn đệ tử: chớ dùng rượu thịt,
Khuyên chúng sanh: rán ít chơi bời,
Sắc tài tửu khí hao hơi,
Gắng công tu niệm thờ Trời tụng Kinh.

Lời Thầy phán phải tin, phải tưởng,
Lời Thầy răn chớ cượng chớ sai,
Tu cho rạng tiếng Cao Ðài,
Cha hiền, con thảo, trai ngay, gái lành.

Trối những kẻ khinh danh Ðạo cả,
Thây các phường thóa mạ khi Thầy,
Khoe khoang, kiêu ngạo, đặt bày,
Ðền xong tội thế, đến ngày gặp Ta.

Ðiều biếng nhác bởi già nghiệp chướng,
Tánh trù trì, khó hưởng thanh nhàn,
Khuyên con giữ dạ bền gan,
Lòng lo tu niệm, Thiên Ðàng mau lên.

Mãn những ước thành Tiên, thành Thánh,
Mà quên lo tu tánh, tu thân,
Tu cho bồi đắp thiện căn,
Tu cho trung, hiếu, nghĩa, nhân vẹn tuyền.

Tu là cứu Cửu Huyền Thất Tổ,
Tu là cần phổ độ chúng sanh,
Cầu cho cải dữ về lành,
Cầu cho đất nước thái bình muôn năm.

Tu cho được Thần khâm, quỉ phục,
Tu cho nên thoát tục, siêu phàm,
Công danh, quyền quí, tước hàm,
Mây tan, nước chảy mà ham nổi gì?

Thế thường nói: tu chi cho nhọc,
Ðể mà lo: tước lộc công hầu,
Sao không suy trước nghiệm sau,
Tiền căn, hậu quả, bởi sao được vầy?

Phân năng bón thì cây mới tốt,
Rễ thường tươi thì đọt mới xanh,
Muốn cho cả cội sung nhành,
Tu hành lo trước, sau đành thảnh thơi.

Thầy thương xót bùi ngùi kẻ dại,
Muốn thành công mà lại ngao du,
Phật mang tám nạn cũng tu,
Thầy còn muôn kiếp công phu dãi dầu.

Ai dẫu được công hầu khanh tướng,
Mà không lo tiếp dưỡng, tài bồi,
Gốc cây sùng đục đã rồi,
Không trông nứt mục, nảy chồi, đơm bông.

Tu phước đức, bền lòng cho lắm,
Tên quỉ vương hay nhắm người tu,
Mũi tên đã độc lại mau,
Ghim nhằm một mũi, khó hầu gở ra!

Tên nó sắm những là: rượu bọt,
Tên nó giồi: gái tốt, vàng ròng,
Muôn ngàn tên độc vô cùng,
Vương nhằm một mũi thì không còn hồn!

Tu thì chớ bôn-chôn nóng-nảy,
Tu thì cho phải quấy phân minh,
Chánh, tà, chơn, ngụy, được rành,
Phật Trời mới chứng cho mình rằng tu.

Tu cho được: phụ từ, tử hiếu,
Tu cho thành: huynh hữu, đệ cung,
Gái tu: tứ đức, tam tùng,
Trai tu: nhân, nghĩa, hiếu, trung, làm đầu.

Thế tưởng vậy là tu Nhơn Ðạo,
Nào hay rằng: Thiên Ðạo bởi đây,
Chẳng lo Nhơn Ðạo cho dày,
Mong thành Thiên Ðạo mặc may làm gì?

Phật đã dạy Tam qui, Ngũ giới,
Ðời chẳng tuân để hại ngươn-thần,
Bởi thương nên mới phân trần,
Vì thương nên mới ân cần nhủ khuyên.

1- Một khuyên phải kiền thiền mộ Ðạo,
2- Hai tuân lời Tam-Giáo Thánh Nhơn,
Ðạo là chí chánh, chí chơn,
Những lời Thánh-Huấn chạm xương ghi lòng.

3- Ba khuyên nhớ tổ-tông công đức,
4- Bốn lo tu đúng bực cang-thường,
Cha sanh, Thầy dạy kỹ cương,
Anh em bạn tác, náu nương vợ chồng.

5- Năm khuyên nhớ kẻ nông công khó,
6- Sáu xót thương nông phụ nhọc nhằn,
Cày sâu, cấy cạn, bón phân,
Làm nên tơ chỉ trăm phần lao đao.

7- Bảy liên lạc đồng bào huynh đệ,
8- Tám khuyên đừng xua mị quyền môn,
Sao cho tiếng ngợi danh đồn,
Ðáng trang đạo đức, phải tôn, phải vì.

9- Chín khuyên chớ khinh khi cô quả,
10- Mười khuyên tua hỷ xã lỗi người,
Khuyên đừng biết giận hờn ai,
Xót người hoạn nạn, cứu nơi cơ hàn.

Ðược vậy mới gọi trang tu Tánh,
Tánh tu rồi mới định tu tâm,
Càng tu, càng thấy cao thâm,
Càng tu, càng thấy sự lầm lạc xưa.

Biết lầm lỗi thì chừa cho gấp,
Ðặng mau lo bồi đắp cội lành,
Như vầy mới gọi tu hành,
Như vầy mới gọi chứng minh Bồ Ðề.

Khuyên con phải kiêng dè cho lắm,
Mười lời khuyên như tẩm Cam Lồ,
Ðêm ngày dầu tụng Nam Mô,
Mà không noi giữ, nhành khô, rễ còi.

Mừng con đặng có mòi tấn phát,
Rưới cho con nước mát mùi thơm,
Bốn mùa hoa nở trái đơm,
Hơi bay bát ngát, nhụy tươm ngọt ngào.

KỆ VIẾT:

1- Giáng cơ chỉ rõ máy Kiền Khôn,
Ghi chép vài trang sách Thánh Ngôn,
Luân lý cang-thường nên cả cội,
Nghĩa nhơn, trung-hiếu vốn sâu nguồn.
Thành chơn, phước bởi công vô lượng,
Ðắc Ðạo, ơn nhờ Ðức Chí Tôn,
Khuyên nhủ các con tua gắng chí,
Tam Kỳ muôn thuở tiếng bia đồn.

2- Tiếng bia đồn để ức muôn năm,
Khuyên thế đừng tu độc hiểm tâm,
Thầm tối mưu gài chông lễu lễu,
Cao xanh lưới bủa dạng tăm tăm.
Vô thường chẳng sợ tay oanh liệt,
Quỉ tốt nào kiêng bực phẩm hàm,
Thiện ác đáo đầu vai có trả,
Hoàng Thiên hữu nhãn chắc không lầm.

3- Chắc không lầm lỗi tiếng Mười Khuyên,
Thì được tên đề bảng Ðịa Tiên,
Muốn hưởng lâu dài nền hậu quả,
Phải lo bồi đắp cảnh tiền duyên.
Làm lành, lánh dữ câu thành ngữ,
Tốt đất sung nhành lẽ tự nhiên,
Chí dốc siêu phàm, lên cõi Thánh,
Phải lo vun tưới miếng Tâm-Ðiền.

Các con! Thầy dạy bài “Tu Chơn Thiệp Quyết” nầy là chỉ đường ngay lẽ chánh cho các con đi, nẽo vạy thói tà cho các con sửa.

Trong lúc Thầy truyền Ðạo đây, thì chư Thần Tiên ủng hộ theo Thầy, tường vân che phủ, thoại khí bao quanh. Lại có Văn Xương Ðế Quân ghi chép vào Kim Thơ Ngọc Sách hầu để vào “Toàn Kinh Bửu Viện“.

Ba bài kệ các con phải giữ dạ nằm lòng, ngày đêm truyền tụng chớ khá bỏ qua. Vì tụng Kinh nầy đây thì Tứ Trị Công Tào Sứ Giả thảy hằng nghe mà biên chép công quả.

Thầy dạy Bổn Mạng Nguơn Thần của mỗi con xét coi trong lúc rảnh rang có trau giồi Ðạo Ðức như lời Thầy phán chăng?

Các con hãy nghe, chớ rằng Thầy không nói trước.

Bài “Tu Chơn Thiệp Quyết” có 64 vé, 256 câu, 1792 chữ, cộng với ba bài Kệ là 1960 chữ.

Lời nào Thầy đã dỉ hơi ra,
Vàng, ngọc, gìn trau chớ bỏ qua,
Cung kỉnh, ấy là nền đạo-đức,
Kiêu căng, vốn thiệt gốc yêu tà.
Ngươn-Thần chiếu mạng người trung chánh.
Nghiệp chướng trì chơn đứa xảo ngoa,
Ðừng tưởng Trời cao mà giả dối,
Mắt Thần như chớp, khó phui pha.

Các con! như có người nào ở ngoài vòng cửa mà muốn cho rõ mùi Ðạo lý của Thầy, thì các con cũng nên xét và dạy chúng nó bài “Thiệp Quyết” nầy.

Khuyên đời bỏ dữ, đặng theo lành,
Ấy cũng là điều giúp chúng sanh,
Tiên, tục, thấp, cao, lời giác đác,
Nên, hư, chỉ rõ tiếng đành rành.
Thiên duyên yếu mối, năng thưa thớt,
Nghiệp chướng già cây, khó rắp ranh,
Vững lái êm chèo thuyền tế độ,
Ðưa người đến bến, mựa cành nanh.

(Bài “Thiệp Quyết” nầy là bài giáng cơ tại Thánh Thất Kiên Giang ở Rạch Giá, đêm 24 tháng 3 âm lịch năm Canh Ngọ, 22-4-1930).

Address

Trảng Bàng
Tây Ninh
80000

Telephone

+84948550121

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giáo Lý Cao Đài posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Giáo Lý Cao Đài:

Shortcuts

Share